6 thg 11, 2010

PN&HĐ: Chuẩn "châu Phi" cho bô-xít và... tivi cho Vinashin?

PN&HĐ: Chuẩn "châu Phi" cho bô-xít và... tivi cho Vinashin?

Tác giả: Khánh Linh

Dù không hề muốn, Phát ngôn & Hành động tuần này vẫn buộc phải tiếp tục hai chủ đề đã đề cập từ tuần trước, bởi cả hai vẫn giữ nguyên sức nóng như lửa đốt từ trong diễn đàn quốc hội lẫn ngoài vỉa hè xã hội.


Bô-xít và chuyện chuẩn... châu Phi?
Không được đưa vào chương trình nghị sự chính thức của kỳ họp lần này, nhưng không vì thế mà chủ đề bô-xít bị lãng quên. Cử tri sẽ "ghi điểm" cho ĐBQH Dương Trung Quốc, bởi ông (hình như là ĐBQH duy nhất) đã viết thư cho Chủ tịch Quốc hội đề nghị "tại kỳ họp này Chủ tịch cần bày tỏ một thái độ rõ ràng đối với những ý kiến quan ngại của nhân dân; các ủy ban của QH có liên quan cần có những hoạt động giám sát theo quy định của pháp luật và bày tỏ ý kiến rõ ràng". Cũng chính ông (hình như lại là ĐBQH duy nhất) đã dành gần như trọn 7 phút quý giá trong thời gian thảo luận kinh tế - xã hội ở hội trường sáng 2.11 chỉ để nói về bô-xít, bỏ qua cả chục vấn đề nóng hổi khác.
Dù rằng trước ông, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đã "xin phép phát biểu dài hơn một chút" để trấn an Quốc hội về sự an toàn của môi trường khi khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, bởi các chỉ tiêu, các tiêu chuẩn là tiêu chuẩn hiện đại của thế giới, các chỉ tiêu về môi trường nghiêm ngặt nhất của Việt Nam quy định và với các yêu cầu cân đong, đo đếm rất cụ thể là cơ sở khoa học.
Nhưng ĐB Quốc đã chỉ ra một "thiếu sót" mấu chốt trong giải trình có vẻ như đã kỹ càng của Bộ trưởng Nguyên, rằng "việc triển khai xây dựng báo cáo về môi trường diễn ra cách đây đã 1 năm, không biết sau sự cố Hungary, đoàn giám sát của bộ đã đi chưa, như thế vẫn là những thông tin cũ.
"Đã một lần trên phương tiện thông tin đại chúng, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên nói rằng đó là về lý thuyết còn trên thực tiễn là chưa rõ. Người ta đặt dấu hỏi về khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn như thế nào". Thông tin cũ nên ĐB Quốc không an lòng, và người dân cũng chưa thể an lòng.
Ấy là chưa kể, khi Bộ trưởng bảo các chỉ tiêu về môi trường nghiêm ngặt nhất của Việt Nam quy định thì người dân bỗng dưng cảm thấy hơi... rùng mình. Nói quốc tế xa xôi thì người dân còn "ù ù cạc cạc" không biết quốc tế nào, bởi quốc tế có 5, 7 đường quốc tế, chuẩn châu Âu châu Mỹ cao vời vợi hay chuẩn... châu Phi thì cũng hiển nhiên phải gọi là quốc tế thôi.
Quốc tế còn chưa chắc chắn, đằng này Bộ trưởng lại nhắc chỉ tiêu môi trường của Việt Nam thì thật không biết phải nghĩ thế nào. Môi trường của Việt Nam đang "sạch" thế nào thì người dân hoàn toàn có thể tự cảm nhận (bởi cũng rất tùy nơi), nhưng chuyện chuẩn Việt Nam thế nào thì cứ đi dọc Việt Nam xem các... trường chuẩn quốc gia là Bộ trưởng sẽ thấy chuẩn của mình còn thấp ra sao.
Nhớ lại chính những ngày này năm ngoái, Hà Nội còn được công nhận là đô thị sạch hẳn hoi, được công nhận mà chẳng người Hà Nội nào thấy vui, thậm chí họ còn trách những người trao danh hiệu là trao nhầm.
Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên, Ảnh Đất Việt
Lan man một tý chuyện chuẩn, chuyện sạch, để Bộ trưởng sẽ không ngạc nhiên khi người dân sẽ tỏ ý nghi ngờ khẳng định môi trường sẽ sạch "trên lý thuyết" của Bộ trưởng.
Chưa hết, Bộ trưởng bảo Hội đồng thẩm định của Bộ có tới 21 thành viên, nhiều gấp ba lần các hội đồng khác (thường chỉ có 7 - 9 thành viên), "gồm tới 18 nhà khoa học, bao gồm các GS, PGS và TS, chủ yếu là các đồng chí là viện trưởng, viện phó, giám đốc trung tâm khoa học, hiệu trưởng, hiệu phó các trường đại học, phải mời các đồng chí này vào, bởi vì đứng đằng sau các nhà khoa học này là cả các viện nghiên cứu, là hệ thống các trường đại học, các giáo sư đứng đằng sau, để thẩm định tất cả các lĩnh vực có liên quan". Giá như Bộ trưởng có thể công bố cụ thể tên của 18 nhà khoa học này, để xem đứng đằng sau họ có tổng cộng bao nhiêu viện nghiên cứu, bao nhiêu trường đại học, bao nhiêu giáo sư, đã bao quát đủ tất cả các lĩnh vực chưa?
Rồi phải đi hỏi một vài GS trong đó (nếu hỏi được tất cả thì còn gì bằng) xem họ đã bao giờ được mời tư vấn về những vấn đề liên quan đến dự án bô-xít này chưa. Chỉ khi họ đều bảo họ đã có tham gia rồi, và họ khẳng định là an toàn, thì may ra người dân mới tin, và có lẽ ĐB Dương Trung Quốc cũng tin.
Còn bây giờ, cũng như ĐB Quốc, người dân chỉ thấy rất nhiều nhà khoa học lên tiếng lo âu về dự án, cũng toàn những nhà khoa học lớn, thuộc các đại học hay viện nghiên cứu lớn cả. Vậy thì phải suy luận thế nào đây? Vì viện trưởng của họ, hiệu trưởng của họ chưa được mời vào hội đồng thẩm định của Bộ, hay được mời vào rồi mà chưa hỏi ý kiến họ, hay hỏi rồi mà lại...?
Vì quá thiếu dữ liệu nên không dám đưa ra kết luận gì, chỉ biết rằng thêm một cơ số lý do để người dân chưa thể tin chắc "như đinh đóng cột" như Bộ trưởng rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là an toàn.
Chỉ phân tích vài ý chứ chưa đi sâu vào những nội dung chuyên môn trong phát biểu của Bộ trưởng, đã thấy có nhiều điểm đáng quan ngại, nên chỉ xin phân tích thêm một điểm "nho nhỏ" nữa thôi. Trong kiến nghị của các nhân sĩ trí thức có nhắc chuyện Trung Quốc đã đóng cửa cả trăm mỏ khai thác bô-xít trên khắp đất nước vì ảnh hưởng đến môi trường. Còn trong phần trình bày của Bộ trưởng lại có nhắc việc đã tổ chức cho đoàn của Hội đồng thẩm định đi thăm Trung Quốc, để học tập kinh nghiệm. Giá như đoàn của Hội đồng thẩm định đến chính những nơi chính phủ Trung Quốc đã cho đóng cửa mỏ thì hay biết mấy? Bởi trăm nghe không bằng một thấy mà. Họ đóng cửa mỏ của họ, rồi lại sang khai thác mỏ của mình thì có đáng tin không?
Khai thác bo xit và Vinashin đang là vấn đề nóng nhất trong quốc hội, Ảnh Dân Trí
Không lẽ phải dùng từ "vô cảm"?
Đến đây thì xin dừng phân tích những phát ngôn của Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường Phạm Khôi Nguyên, để trở về với ĐBQH Dương Trung Quốc.
Không chỉ tỏ ra chưa an lòng với giải trình của Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường, ĐB Quốc còn thẳng thắn "nhắc" chính phủ rằng, đến ngày Chính phủ hoàn tất báo cáo kinh tế xã hội để trình Quốc hội thì sự cố vỡ đập bùn đỏ ở Hungary đã diễn ra được nửa tháng, để đặt ra một câu hỏi "đau đáu": Không lẽ Chính phủ, tôi dùng chữ "vô cảm" đến mức không hề đả động trong nội dung báo cáo trước Quốc hội và Quốc hội cũng không yêu cầu Chính phủ giải trình trước hết để làm an lòng dân, sau nữa thể hiện tính nhạy bén và trách nhiệm giám sát thường xuyên của mình. Người dân quan sát thấy dường như cả Quốc hội và Chính phủ đều coi câu chuyện bôxít đã là chuyện "ván đã đóng thuyền".
ĐB Quốc không ngại ngần khi đưa ra sự so sánh có thể sẽ làm mất lòng nhiều người: "Những ý kiến mang tính chất phản biện khoa học và đầy tinh thần trách nhiệm của những người yêu cầu phải dừng hay xem xét lại dự án khai thác bôxit ở Tây Nguyên ngày càng nhiều về số lượng, càng có sức nặng thuyết phục về chất lượng. Trong khi đó, trả lời các quan chức có trách nhiệm của Chính phủ lại càng bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại hơn về hiệu quả kinh tế trong khai thác và tiêu thụ, về sự thiếu đồng bộ giữa dự án khai thác và điều kiện hạ tầng để vận chuyển, về sự lựa chọn công nghệ và địa điểm chế biến tối ưu, về những rủi ro về sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài".
Ông Quốc không trốn tránh trách nhiệm của một đại biểu dân cử khi khẳng định sự tự phê phán của Quốc hội vẫn chưa tương xứng với trách nhiệm của Quốc hội, trong đó có mỗi ĐBQH chúng ta trong việc này.
Quốc hội vì là cơ quan quyền lực cao nhất nên sẽ phải chịu trách nhiệm cao nhất, "Bài học về sự đổ vỡ của Vinashin hoàn toàn có thể soi vào dự án bô-xít nên chúng ta buông lỏng quyền giám sát của Quốc hội, bỏ ngoài tai những ý kiến đóng góp của nhân dân không loại trừ sự lặp lại".
Xin không bình luận nhiều về những phát biểu này của ĐB Dương Trung Quốc, bởi ông Quốc đã nói quá thẳng thắn và thấu đáo suy nghĩ của ông, bình luận thêm có khi lại thành thừa. Chỉ xin "nhắc" thêm ĐB Quốc, rằng các quan chức có trách nhiệm của Chính phủ mà ĐB Quốc nhắc đến, phần đông trong số họ cũng chính là ĐBQH. Nghĩa là, họ sẽ phải chịu trách nhiệm kép cơ đấy.
Nhưng phải chăng chính vì "vừa đá bóng vừa thổi còi" mà người dân chẳng thấy bóng dáng người đại diện của mình trong các quan chức chính phủ.
Người dân lo thì cứ lo, còn các vị không ngừng khẳng định và tái khẳng định sự an toàn. Chỉ ĐB Quốc không phải thành viên Chính phủ mới đề nghị "có thể dừng lại Dự án bôxít để bàn bạc cho thấu đáo. Dự án Dung Quất đã kéo dài nhiều năm vì sự lựa chọn phương án tối ưu và cái tối ưu phải thuộc về lợi ích dân tộc của mình, vì thế việc dừng lại để bàn thêm dự án bôxít là điều không trái với lòng dân".
Con tàu Vinashin đang làm đất nước tròng trành, Ảnh Pháp luật Việt Nam
Sẽ có Ủy ban lâm thời Vinashin?
Chỉ mình ĐBQH Dương Trung Quốc đã làm "nóng" vụ bô-xít, đủ biết Vinashin sẽ nóng đến mức nào, khi đây là cái tên riêng được nhắc đến nhiều nhất trong 2 ngày thảo luận kinh tế - xã hội, đến mức nếu Vinashin là một con người, chắc chắn người ấy sẽ liên tục "hắt hơi". Liên tiếp các ĐBQH đại diện cho cử tri của miền Bắc đến miền Nam, miền xuôi lên miền ngược, nhắc đến Vinashin trong những hoàn cảnh khác nhau. Nhắc nhiều quá đến mức các ĐB sau đó chỉ cần đề cập "trường hợp Vinashin như nhiều ĐB đã đề cập sáng nay, hoặc đề cập hôm qua" là quá đủ.
Ấy vậy nhưng lắng nghe phát biểu của các ĐBQH, sẽ thấy rất khác nhau. Chỉ xin chọn nhắc lại một vài phát biểu trong số đó, không dám khẳng định đã là tiêu biểu nhất hay chưa.
ĐB Lê Văn Cuông: "nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế thì vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở ta thì chưa". Ảnh VietNamNet
ĐB Nguyễn Minh Thuyết tiếp tục thể hiện bản lĩnh khi bấm nút phát biểu sớm và dành toàn bộ thời gian "có hạn" để chỉ nói độc nhất chuyện Vinashin. Thời gian dành cho mỗi ĐB tối đa là 7 phút quy định, nhưng chắc chắn ĐB Thuyết không dùng hết 7 phút này, bởi phần phát biểu của ông khá ngắn gọn, lại là một bài đã chuẩn bị sẵn. Có điều, tập trung chỉ một vấn đề là chủ đích của ông, "để ngay sau buổi họp này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội như một kiến nghị chính thức của đại biểu. Trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xem xét và cho biểu quyết về kiến nghị của tôi".
Bởi là kiến nghị nên ông không phân tích nhiều về sự khổng lồ của con số 86 ngàn tỷ, mà tập trung vào câu hỏi "còn những ai nữa sẽ phải chịu trách nhiệm về những sai phạm này?".
Nhắc lại vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cách đây hơn 6 năm, vì nuông chiều, luôn áp dụng những siêu cơ chế cho công ty của Lã Thị Kim Oanh dẫn đến thất thoát trên 100 tỷ đồng mà một vị Bộ trưởng đang rất được lòng dân, được lòng đại biểu Quốc hội đã phải từ chức và 2 vị Thứ trưởng đã phải ra trước vành móng ngựa. 100 tỷ đồng ngày ấy khiến một Bộ trưởng từ chức, 2 thứ trưởng ra trước vành móng ngựa, còn 86 ngàn tỷ hôm nay thì sao?
ĐB Thuyết bảo "Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần" có thể "hơi quá", vì 6 năm qua mức độ trượt giá cũng nhiều rồi, nhưng vẫn chắc chắn một điều là vụ việc Vinashin nghiêm trọng hơn vụ việc Lã Thị Kim Oanh ngày xưa.
Vậy nên theo ĐB Thuyết, "trong trường hợp này các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội - cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình. Không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm".
Đề xuất của ĐB cực kỳ cụ thể, đề nghị UBTVQH tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ có liên quan. Đề xuất này sau này thế nào cũng sẽ được ghi lại trong lịch sử của Quốc hội.
Không chỉ ĐB Thuyết mà rất nhiều ĐBQH có những đề xuất liên quan đến trách nhiệm của các thành viên chính phủ trong "vụ Vinashin".
Nhắc chuyện ở các nước, "nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế thì vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở ta thì chưa", ĐB Lê Văn Cuông tán thành việc thành lập Ủy ban lâm thời, thậm chí còn tiến thêm một bước là phải lập "ngay trong kỳ họp này".
Một nhân vật quan trọng của Quốc hội vì mang hàm bộ trưởng là Chủ nhiệm UB Quốc phòng - An ninh Lê Quang Bình cũng ủng hộ việc thành lập ủy ban lâm thời, ủng hộ một việc "chưa có tiền lệ", dù biết thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội rất ngắn nhưng ông chỉ đưa ra đề xuất.
"Có thể sẽ phải mời rất nhiều chuyên gia độc lập và sử dụng kết quả của các cơ quan khác như kết luận của Ủy ban Kiểm tra TƯ, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các bộ, ngành"
Khác với những lo âu về bô-xít là câu chuyện của tương lai, giải quyết hậu quả Vinashin là câu chuyện đã có hậu quả nặng nề (quá khứ), nên không thành viên Chính phủ nào thể hiện thái độ lạc quan trong tuần này (chỉ trong tuần này thôi, xin không nhắc lại chuyện của những tuần trước).
Vinashin sẽ giãi bày trên tivi?
Vinashin đã "hỏng", ĐBQH thì quyết liệt đòi quy trách nhiệm, đòi phải có người từ chức, đòi phải xử lý nên các thành viên chính phủ chỉ nhẹ nhàng giải trình để Quốc hội hiểu rõ hơn mà thôi.
Tổng thanh tra Chính phủ thì "phân tích chứ không đổ lỗi" chuyện chưa hề có một cuộc thanh tra toàn diện nào, là do ba lần định thanh tra nhưng năm thì do trùng lặp với Bộ Tài chính nên phải dừng, năm thì các tập đoàn tập trung khắc phục khủng hoảng kinh tế và suy thoái nên phải giảm áp lực thanh tra, năm nay thì lại phải "chờ" Ủy ban kiểm tra xong việc.
Vậy là "11 lần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát mà không phát hiện được yếu kém, vi phạm của Vinashin" vì 11 lần làm việc với Vinashin từ đầu năm 2006 đến đầu năm 2010 là do các cơ quan khác nhau, hoạt động theo các quy định pháp luật khác nhau, thực hiện.
Bộ trưởng Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng thì "thấy có trách nhiệm của mình, thấy có khuyết điểm của mình" trong việc "nhiều vấn đề không phát hiện được, nhiều vấn đề phát hiện chậm, thậm chí tất cả những vấn đề cố ý làm sai trái là hoàn toàn không phát hiện được" nhưng cũng nói rõ thêm là "chúng tôi rất lúng túng" trong việc thực hiện chức năng giám sát khi không còn chế độ bộ chủ quản, Bộ chỉ còn chức năng quản lý ngành nên không thể can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của tập đoàn.
Ngoài ra, còn thêm Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Kế hoạch - đầu tư Võ Hồng Phúc cũng giải trình trước Quốc hội, nhưng xin không nhắc đến những phát biểu ấy, bởi cả hai bộ trưởng đều đưa ra bài học kinh nghiệm về cơ chế nhiều hơn là trách nhiệm của chính bộ mình.
Dễ nhận thấy cách phát biểu trước QH của các thành viên Chính phủ trực tiếp liên quan đến "con tàu Vinashin". Nhưng xin được dẫn thêm phát biểu của một vài ĐBQH khác.
Đại biểu Nguyễn Văn Thuyết: "Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần" Ảnh VietNamNet
ĐBQH Trần Bá Thiều (ĐBQH Hải Phòng, Tổng Cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng, Bộ Công An) dường như là người có phát biểu tươi sáng nhất, rằng "Hiện nay chúng ta vẫn ở trong tầm kiểm soát được Vinashin, nhiều đại biểu Quốc hội chưa hình dung hết được Vinashin như thế nào, thực sự Vinashin hiện nay nhiều con tàu vẫn đang xuất xưởng, vẫn đang được đóng mới, còn đám sai phạm thì ta xử lý hết sức nghiêm túc, chứ không phải Vinashin u ám và thất vọng như một số đại biểu phát biểu. Cơ quan điều tra đã làm việc hết sức nghiêm túc, tất cả những đối tượng sai phạm, những con người sai phạm ở đây đều được xử lý một cách nghiêm minh. Bộ Chính trị cũng giao cho Ủy ban kiểm tra Trung ương tiếp tục kết hợp với các cơ quan chức năng để làm rõ trách nhiệm của các bộ, ban, ngành liên quan".
Có người băn khoăn, liệu khi phát biểu, ông Thiều đang là một ĐBQH, hay là một Tổng Cục trưởng thuộc Bộ Công an, ông đang là ĐBQH hay thành viên chính phủ? Chỉ xin ghi nhận kiến nghị của ông Thiều: "Tôi kiến nghị với Quốc hội yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn Vinashin có một buổi báo cáo truyền hình trực tiếp trước Quốc hội để cho nhân dân và cho đại biểu Quốc hội tường tận về Vinashin hiện nay, không phải là để ù ù, cạc cạc, không biết gì cả thì cứ nói làm sao rất khó".
Nếu kiến nghị ấy được thực hiện, có khi đây sẽ là buổi truyền hình trực tiếp được đông đảo bà con đón xem nhất.
Xin chọn nhắc thêm phát biểu của một ĐBQH nữa, ĐBQH Nguyễn Đức Kiên (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng). Phát biểu của ông được chú ý "hơn người", bởi trong chưa đầy 2 tuần, ông đã có hai cách phát biểu rất khác nhau. Ngày 21/10, trao đổi với báo chí, ông Kiên khẳng định "Đứng về mặt khoa học kinh tế thì Nhà nước đã cho Vinashin phá sản rồi, có điều không tuyên bố thôi", còn hôm 2/11, phát biểu tại hội trường Quốc hội, ông lại bảo "Theo các báo cáo hiện nay tổng tài sản có của Vinashin là khoảng 103.000 tỷ, tổng tài sản nợ ghi trên sổ sách kế toán là khoảng 86.000 tỷ. Như vậy nếu đứng về mặt kinh tế cân đối của Vinashin là vẫn còn, vốn của chủ sở hữu vẫn còn, nó không phải mất đi nhưng vấn đề ở đây chúng ta nói với nhau là hiệu quả vốn đầu tư của vốn vay đối với Tập đoàn Vinashin như thế nào, chứ không phải Tập đoàn Vinashin đã phá sản".
Trong chưa đầy 2 tuần, một tập đoàn từ phá sản rồi lại thành không phá sản, chính xác theo lời của ông là "không phải đã phá sản". Người dân chịu chết không biết vì lý do gì ông lại thay đổi quan điểm 180 độ như thế? Cũng lại phải băn khoăn, không biết khi nào ông Kiên là ĐBQH, còn khi nào ông đang là Phó Chủ tịch UBND của một tỉnh?
Một câu hỏi xưa cũ nhưng buộc phải đặt ra, liệu một ĐBQH tham gia chính quyền có bị "xung đột lợi ích" khi phát biểu không? Không cần là Bộ trưởng mới khó, cứ "dính" đến chính quyền là khó rồi. Đành rằng, chính quyền của ta cũng là chính quyền "do dân, vì dân", nhưng khái niệm ai là dân thì mênh mông ghê lắm.

4 thg 11, 2010

Cơ chế Thủ tướng chủ quản?

Cơ chế Thủ tướng chủ quản?

Nguyễn Quang A
clip_image003
 
"Chúng sử dụng quá nhiều nguồn lực của nhà nước nhưng mang lại thành tích rất không tương xứng". Ảnh Lao Động.
 
Với mấy chục bộ và 19 tập đoàn tổng công ty như vậy, số đầu mối mà Thủ tướng phải trực tiếp điều khiển là quá lớn, vượt quá khả năng của một người, dẫu tài giỏi đến đâu.
Phiên họp của Quốc hội đã thực sự nóng khi có đại biểu kiến nghị lập Ủy ban điều tra về Vinashin và bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ vào cuối kỳ họp này. Đấy là những kiến nghị hợp pháp nhưng chưa rõ sẽ có được thực hiện không.
Vinashin, với khoản nợ lúc đầu được cho là 86 ngàn tỷ đồng, nay có thể lên 120 hay 130 ngàn tỷ (khoảng 4,5- 5% GDP). Không nghiêm túc cải tổ một cách quyết liệt các tập đoàn kinh tế nhà nước, sẽ có thể có thêm các Vinashin khác và có thể nguy hiểm cho nền kinh tế nước nhà. Chúng sử dụng quá nhiều nguồn lực của nhà nước nhưng mang lại thành tích rất không tương xứng. Có lẽ, từ bài học Vinashin, đã đến lúc chúng ta phải xem lại cụm từ "kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo".
Trước kia các tổng công ty còn do các Bộ (và một vài địa phương) quản lý trực tiếp (tức là Bộ là đại diện chủ sở hữu nhà nước, quyết định về nhân sự, kế hoạch..., giám sát hoạt động của chúng) vì thế người ta gọi là các bộ chủ quản. Cơ chế này có nhiều khiếm khuyết và bị kiến nghị hủy bỏ.
Với các tập đoàn (mà thực ra vẫn là các tổng công ty nhà nước có gắn thêm hai chữ “tập đoàn”) và các tổng công ty 91, các Bộ chủ quản trước kia nay mất các quyền quản lý đó mà chỉ tập trung vào quản lý nhà nước về ngành mình phụ trách.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải cho biết, “Theo quy định, Thủ tướng Chính phủ thực hiện quyền tập trung quản lý nhà nước và quyền chủ sở hữu của nhà nước đối với tập đoàn”. Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm các thành viên và chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc của các tập đoàn. Hiện tại có 19 tập đoàn và tổng công ty do Thủ tướng trực tiếp quản lý như vậy.
Với cơ chế Thủ tướng chủ quản này, quyền lực kinh tế đã tập trung quá cao vào tay một người và ẩn chứa những rủi ro khôn lường (thời xưa rải ra các Bộ và các địa phương, nên rủi ro cũng được trải ra và có thể không đến mức khốc liệt như với cơ chế Thủ tướng chủ quản).
Với mấy chục bộ và 19 tập đoàn tổng công ty như vậy, số đầu mối mà Thủ tướng phải trực tiếp điều khiển là quá lớn, vượt quá khả năng của một người, dẫu tài giỏi đến đâu. Không những thế chính trị gia hàng đầu của đất nước không thể đồng thời đảm nhiệm việc liên quan đến kinh doanh trực tiếp như vậy.
Liệu đã đến lúc cần xem lại cơ chế Thủ tướng chủ quản?

2 thg 11, 2010

Nghị ngủ mơ!!!

Nghị mơ
Xưa này người ta nói nhiều đến nghị gật nhưng ít ai nói đến Nghị mơ. Hôm nay, tôi có dịp theo dõi những phát biểu thảo luận của đại biểu QH. Điều đáng buồn là không ít đại biểu lại như đang ngủ mơ. Phát biểu thì hàm hồ, nói thiếu chắt chẽ và thể hiện sự non kém trong kiến thức ở nhiều lĩnh vực.

Câu đầu tiền thường nghe "tôi đồng ý cao...." sau đó là một loạt bài ca muôn thủa là tốt ngon lành.

Thời buổi này mà nhiều đại biểu vẫn "nước ta có .... km bờ biển nên ngành đóng tàu là kinh tế mủi nhọn, do vậy phải phát triển" kha kha. Không biết ông có hiểu như thế nào là kinh tế mủi nhọn không nhĩ!!!!.

Có người lại hùng hồn "Tôi tin năm 2020 nước ta trở thành nước công cơ bản công nghiệp với số người lao động nông nghiệp chỉ có 30%". ... Rất nhiều, vô cùng nhiều ..

Lại có ngài nóng rằng các đại biểu phải nói thế này thế kia hiểu nhầm về Vinashin...nghe mà đau lòng quá.

Còn hôm nay "Bác phó cuội" thì trông thật là thảm, già từng đó rồi mà phơi mặt cho thiên hạ chửu hỏi làm sao mà không buồn được. Chỉ tại cái tội cả nể nhận lời làm việc quá sức. Kể ra giờ tôi thương bác hơn là giận bác.

Quả là có rất nhiều cái phải bàn .. nhìn những gương mặt đó thì làm sao mà yên tâm về vận nước được

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”.
II/ Về sở hữu đất đai

Nếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”. 

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.

Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:

Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.

Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.

Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.

Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:

(a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng.

Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất. 

Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?

Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay.

Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.

“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên.

Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.

(b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch.

Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.

Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh.

Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.

Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh.

Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.

Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.

Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.

Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.
Tháng 9/2010

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)
Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.
Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..

Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.

Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.

Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.


Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?

Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)?

Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?

Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.

I/ Về chế độ sở hữu toàn dân


Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v..

Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:

Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu. Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.

Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.  Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.

Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:

(a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:

Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”. Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.

(b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:

Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.

19 thg 10, 2010

Nào cùng thi, xem ai... to hơn!

15 thg 10, 2010

PN & HĐ: Cái khôn- cái họa- cái sợ- cái dại và...

PN & HĐ: Cái khôn- cái họa- cái sợ- cái dại và...

Tác giả: Kỳ Duyên

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-10-15-pn-and-hd-cai-khon-cai-hoa-cai-so-cai-dai-va-

Cái khôn- cái sợ- cái dại đều là những thuộc tính của con người. Những thuộc tính đó lại tác động vào xã hội, chi phối sâu sắc xã hội, tụt hậu hay phát triển, bất hạnh hay hạnh phúc. Phát ngôn và Hành động tuần này xoay quanh câu chuyện về thuộc tính con người, cũng là xoay quanh dâu bể cuộc đời...

Đại lễ- lũ lụt và ..."cái khôn đi trước rước cái sáng suốt đi sau"
Rất kỳ lạ là những ngày đầu tháng 10 vừa qua, tạo hóa như thử thách sức lực và trí khôn của con người. Cùng lúc, cả xã hội được chứng kiến 2 sự kiện như đối lập, và "đối trọng" nhau. Một đầu- Thủ đô Hà Nội tưng bừng chăng đèn kết hoa, rạng ngời các công trình "chào mừng..." và rạng ngời ánh điện chuẩn bị đón Đại lễ 1000 năm mới có một lần.
Một đầu kia, miền Trung nhớn nhác đối mặt với cơn lũ lớn không mời mà đến, mỗi năm không chỉ một lần. Không điện, không nhà, không cửa. Người dân kinh hoàng "đón lũ" trong cái tối om của đêm trường cô tịch, của đói rét, của cái sống, cái chết mong manh không ranh giới. 85 người dân bị chết, bị mất tích và bị thương, cùng 20 vạn ngôi nhà "chìm đắm" trong mênh mông biển nước...Sự hoạn nạn đã lên đến tột cùng điểm đỉnh.
Tại xã Tân Hóa (Minh Hóa- Quảng Bình), hơn 3500 người dân, trong đó có rất nhiều trẻ em, đã phải chui vào hang tránh lũ, và suốt 5 ngày trời không gạo, không muối, không áo quần thay đổi, sống một cuộc đời ...đồ đá. Đói quá, người dân đã phải ăn cả thịt con trâu chết vô tình trôi dạt qua đó (!) Ông Thái Xuân Đào (68 tuổi) có một câu nói thật đau xót: "... Bà con cố gắng kiếp gia súc mà sống thôi..." (Bee.net.vn, 12-10-2010). Có ai đó đã ví, các em học sinh Tân Hóa, khi học bài lịch sử về nguồn gốc loài người, hẳn sẽ rất giỏi bởi những ngày qua, các em đã hiểu thế nào là đời sống người...nguyên thủy. Một sự ví von hài hước mà...cay đắng.

Đây là một trong những bức ảnh ấn tượng nhất trong trận bão lụt Miền Trung do phóng viên Hữu Khá, báo Tuổi Trẻ chụp: khi theo cano đi cứu hộ, phóng viên thấy hai cảnh tay thò ra từ một mái nhà cầu cứu. Sau khi lũ rút, tác giả quay lại tìm nhân vật trong ảnh. Hai cánh tay đó của hai em ruột Nguyễn Văn Khánh (15 tuổi) và Nguyễn Thị Thùy Linh (8 tuổi) ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) . Sau khi mẹ và em nhó nhất của hai em  đã được sơ tán, bố 2 em đưa Khánh và Linh lên gác xép sát mái nhà rồi ông phải đi sơ tán cha mẹ già ở xóm bên. Khi quay lại, nước lũ chảy xiết không thể về được, đành đứng khóc nhìn về nhà. Khánh và Linh sau một đêm kiệt sức vì kêu gào và kinh hãi với dòng nước lũ bốn bề, sáng hôm sau nghe tiếng cano chạy qua 2 anh em lập tức thò tay vẫy gọi. Bức ảnh đã được truyền qua rất nhiều trang báo, diễn đàn, khiến không ít người rơi nước mắt.
Nước lũ vừa rút, hai anh em Khánh và Linh phải ra đồng giăng lưới kiếm cái ăn cho cả nhà - Ảnh: Hữu Khá   

Chính vì vậy, Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội lẽ ra là một lễ hội tưng bừng cả nước hướng về, không phải của riêng Thủ đô, bỗng trở thành "tâm điểm" của những tranh cãi, phê phán. Có cả bình tĩnh và nóng nảy, có cả thấu tình đạt lý và cực đoan...Giữa lúc đó, tai nạn nổ 2 contennơ pháo ở Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, làm 4 người chết (3 chuyên gia nước ngoài, 1 người VN) và 3 người khác bị thương, khiến dư luận xã hội như quả bóng bị bơm căng tròn tột đỉnh.
Chỉ còn 2 ngày nữa là Kỷ niệm Đại lễ. Chiều thứ 6 ngày 8-10, một tin bất ngờ đồng loạt đăng trên các báo, đã như một cái van làm xẹp bớt quả bóng dư luận xã hội bởi 2 sự kiện vô tình như đối cực. Đó là quyết định của Thành ủy, UBND t/p Hà Nội dừng việc bắn pháo hoa tại 29 điểm trên toàn t/p vào đêm bế mạc Đại lễ 10-10, dành số tiền 5 tỷ đồng giúp đỡ đồng bào các tỉnh miền Trung đang phải gắng sức chống chọi thủy thần.
Trả lời phỏng vấn của p/v VietNamNet, ngày  9-10, ông Phạm Quang Nghị- Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định: "Dừng bắn pháo hoa vì nghĩa vụ và trách nhiệm".
Dư luận báo chí, đặc biệt các trang mạng cá nhân (blog), sau những bức xúc, những chỉ trích, thậm chí phẫn nộ, cũng đồng loạt hoan nghênh quyết định của Thủ đô Hà Nội, là "sáng suốt, được lòng dân".
Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng, đó mới chỉ là "cái khôn đi trước rước cái sáng suốt đi sau". Bởi nếu là "cái sáng suốt đi trước" thì lẽ ra, quyết định ấy phải "sáng suốt đi trước" hơn rất nhiều, không đến nỗi phải "đi sau rốt" các trang mạng cá nhân lớn tiếng kiến nghị, mở đầu là blog của trannhương.com.
Thôi thì, dẫu "sáng suốt" hay "khôn ngoan" mà cuối cùng, người dân không phải "một bên cười nụ, một bên khóc thầm", thì điều đó đều là "được" cả.
Chợt nhớ tối qua, VTV1 đưa một sự kiện thời sự nóng hổi và vô cùng hồi hộp của đất nước Chile, thu hút sự quan tâm, lo lắng theo dõi của cả nhân loại. Cuộc giải cứu 33 thợ mỏ bị "chôn sống" khi sự cố sập lò xảy ra suốt gần 70 ngày qua đã thành công mỹ mãn.
Thật cảm động khi được nhìn thấy hình ảnh của Tổng thống Chile luôn có mặt trong cuộc giải cứu thần kỳ, khi ông ôm hôn rất chặt người trưởng ca- người thợ cuối cùng được đưa lên mặt đất. Phát biểu tại buổi chào đón những người thợ được giải cứu, ông nói một câu thấm thía: Cảm ơn tất cả những người thợ mỏ đã "cho chúng tôi" một bài học về tình người!
Ông - vị Tổng thống Chile, quan chức cao cấp nhất một đất nước, đã không coi đó là sự "cứu giúp", mà ngược lại, ông tự cho đã nhận được ở đó một bài học - bài học vì con người!
Phải văn hóa lắm, phải nhân văn lắm, mới có thể nhận chân giá trị của một vị thế lãnh đạo dường ấy, với nhân dân mình. Ông là người được nhận chứ không phải người "ban cho".
Lẽ dĩ nhiên, chẳng người thợ mỏ, chẳng người dân Chile nào lại muốn có một tai họa kiểu đó, để "cho" chính quyền của họ một bài học về tình người. Nhưng sự cố đó đã xảy ra. Tuyệt vời thay, người lãnh đạo một quốc gia, và những vị quan chức cấp cao của quốc gia Chile, đã "thuộc bài" một cách mỹ mãn, đáng trân trọng.
Và cũng chẳng người dân miền Trung nào lại muốn lũ lụt xảy ra để thử thách sự "thuộc bài" của những người lãnh đạo Thủ đô. Nhưng lũ lụt đã xảy ra, và các quan chức chính quyền Thủ đô cũng đã trả được bài, tuy sự "trả bài" có hơi muộn màng.
Sau khi chạy lũ về... Ảnh Tuổi Trẻ

"Con sáo lội sông"... và 2 lần hiểm họa
Khi những con lũ lớn ở miền Trung còn chưa kịp rút, thì xã hội lại tiếp tục chứng kiến những hình ảnh xót xa, cũng về chuyện sông nước, cho dù tưởng như đã quá quen thuộc.
Báo Dân trí ngày 8-10-2010 đưa tin: "Không có cầu, hàng ngày người dân và trẻ em thôn Phú Mưa (xã Jơ Ngây, huyện miền núi Đông Giang, Quảng Nam) muốn sang phía bên kia đường quốc lộ ĐT604 phải bơi qua con sông R'lang đang chảy xiết trong mùa nước lũ. Trên khúc sông, hàng chục em học sinh đứng đợi người thân đến đón sau buổi học sáng ngày 7/10.
Anh Alăng Ting cho biết: "Nhiều năm ni rồi, do không có cầu nên người dân chúng tôi muốn làm chi cũng phải bơi sông lớn. Nhiều lần cũng suýt mất mạng nhưng cũng phải liều mình chứ biết làm răng?". Còn theo Bí thư Chi bộ thôn Phú Mưa, ông Alăng Bảy: "Không có cầu, người dân và các em học sinh thôn Phú Mưa đều phải bất chấp tính mạng của mình mỗi lần có việc phải qua lại".
Nhìn tấm ảnh người cha, tay trái cầm cặp sách học sinh giơ lên quá đầu, cùng với túm quần áo, tay phải dắt đứa con gái bé bỏng, trần truồng, mái tóc đuôi gà bết nước "lội sông", mà đau xót quá.
Bỗng liên tưởng ca khúc trữ tình của nhạc sĩ Trần Tiến (Ngẫu hứng sông Hồng): "Con sáo sang sông bạt gió. Con sít thương ai, lội sông, lội sông...tìm ai!".
Những 'con sáo' đang sang sông, Ảnh: SGGP

Nhưng những con sáo bé bỏng này đâu có sự lãng mạn, mà chỉ có sự kinh hoàng khi ngây thơ lội sông để...tìm chữ.
Tôi đã lặng đi rất lâu khi nhìn tấm ảnh khiến trĩu nặng con tim. Và tự hỏi, nếu con tôi, cũng phải sống trong hoàn cảnh đó, liệu tôi có đủ can đảm cho con đi học ngày ngày như thế không? Có lẽ không! Tôi xin nhận là kẻ hèn nhát, kẻ phạm Luật phổ cập Giáo dục tiểu học, bởi tôi không thể...
Bởi tôi vẫn luôn nhớ đến vụ tai nạn sông nước đau lòng ở bến đò Chôm Lôm năm nào, đã cướp đi sinh mạng của biết bao bé thơ. Nhớ đến những em bé, cổ quàng khăn đỏ bay phấp phới, ngày ngày treo mình đu dây vượt dòng sông Poko hung dữ, cũng chỉ để đi ...tìm chữ.
Cái con chữ bé nhỏ, bỗng thành tàn nhẫn thế, khi vô tình nó thách thức, nó "đánh đố" biết bao sinh mạng của những con sáo ngây thơ.
Nhưng con chữ vô tri vô giác nó vô tình hay con người có tim, có óc vô tình? Nó vô cảm hay con người vô cảm?
Thú thật, người viết bài này, rất "dị ứng" với câu nói tưởng là khen ngợi của một vị quan chức trước hình ảnh đu dây của trẻ em bên dòng sông PoKô, vì nó... giả dối quá: "Đó là một sự sáng tạo của người dân", khi nhớ tới gương mặt căng thẳng của các em chuẩn bị treo mình vượt sông, mà vô cùng đau đớn, vô cùng phẫn nộ.
Dường như xã hội chúng ta rất hồn nhiên nên rất chóng quên. Rất chóng quên vụ đắm đò Chôm Lôm. Rất chóng quên chiếc đu dây tử thần mong manh treo trên dòng Poko chảy xiết...Nên câu chuyện lội sông R'lang của trẻ em thôn Phú Mưa (xã Jơ Ngây, huyện miền núi Đông Giang, Quảng Nam) lại tiếp diễn.
Sẽ còn biết bao con sáo thơ ngây ngày ngày lội sông...tìm chữ, ở mọi dòng sông trên đất nước này, chưa được báo chí phát hiện?
Sáng tạo là động lực cho xã hội phát triển. Nhưng nhìn những hình ảnh...sáng tạo vượt sông của những người cha, người mẹ thôn Phú Mưa, chắc những người đọc như chúng ta, chẳng ai mong muốn một sự sáng tạo cay cực đó!
Sông nước mùa lũ luôn là hiểm họa với tính mạng con người, đặc biệt với trẻ thơ, nhất là đất nước ta là đất nước của những dòng sông. Nhưng còn có một dòng sông- một hiểm họa còn lớn hơn, đáng sợ hơn- sự vô cảm của con người có trách nhiệm, chảy lạnh lẽo, âm thầm trong những con tim. Ai đó đã nói, một con người mất đi, là nối bất hạnh với cả gia đình. Nhưng niềm tin mất đi, là nỗi bất hạnh với cả một dân tộc.
Xin cả xã hội chúng ta, trong đó có các ông, các bà...từ quan chức đến tận thường dân, trong đó có tôi, có anh, có chị, có các anh, các chị... đừng để cho nỗi bất hạnh đó, ăn mòn.
Vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình, Ảnh Kinh tế Nông thôn

"Không sợ mất...vợ, chỉ sợ mất ...lập trường"
Đó là câu nói nửa đùa, nửa thật và rất hài hước của GS. TSKH Hồ Ngọc Đại, ám chỉ một đời sống tinh thần có thật từng ngự trị trong không ít con người, mà người viết bài này liên tưởng đến, khi đọc bài viết "Cần có những Kim Ngọc mới) của tác giả Đỗ Chí Nghĩa đăng trên VietNamNet ngày 7-10 mới đây, nhân bộ phim Bí thư Tỉnh ủy, đang phát trên VTV1.
Bộ phim được khái quát, được dựng nên từ cuộc đời của một con người có thực, và đã trở thành một nhân vật lịch sử. Đó là ông Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, một người lãnh đạo ở cơ sở, đi đầu trong công cuộc Đổi mới với chủ trương "khoán hộ" (giao ruộng đất cho nông dân). Sau này, chủ trương đó làm cơ sở cho việc ra đời chính sách "Khoán 10", góp phần kích thích sự phát triển nông nghiệp, đem lại lợi ích cho người lao động.
Nhưng cũng chính vì "đi trước thời đại" mà ông Kim Ngọc, con người có cái tên gọi rất đáng quý, lại bị thời đại của ông- của cơ chế quản lý bao cấp, cho "lên bờ xuống ruộng": Bị kiểm điểm, và phải tự phê bình nghiêm túc. Tháng 5 năm 1977, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ III, ông xin rút khỏi chức Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú. Năm sau, 1978, ông  về hưu.
Những năm tháng của thời bao cấp, hình thức kiểm điểm thì nhẹ nhàng, nhưng "bóng ma" của sự kiện đó thật kinh khủng với một con người từng có quyền chức cao cấp như ông. Chắc chắn, nó ám ảnh không ít những cán bộ lãnh đạo khác có đầu óc sắc sảo, có khát vọng đổi mới, muốn tìm kiếm một lối "thoát nghèo" cho dân tộc, nhưng cũng vì thế mà không dám đánh đổi cả thanh danh lẫn "nồi cơm" của gia đình, vợ con, của chính mình.
Bi kịch một dân tộc chậm phát triển thì rất thực, còn cái ám ảnh thì rất "ảo", nhưng lại mang sức nặng ngàn cân!
Vì thế, cho dù hiện nay, cơ chế quản lý xã hội đã đi được những bước dài trong công cuộc Đổi mới, chúng ta vẫn luôn phải đối mặt với một thực tế đáng buồn này: "Nhiều cán bộ được đánh giá là liêm khiết, trong sạch nhưng nhìn kỹ thì hầu như họ không làm gì, không va chạm với ai, chỉ thủ thế, chờ thời... Thái độ "trung dung" ấy rất "ăn điểm" trong bối cảnh cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập...Chính cái "trung dung" ấy lại cản trở sự phát triển, khiến mọi việc chùng chình, thiếu dứt khoát và minh bạch".
Và vì thế, "Những người đứng ở "khoảng giữa", chung chung, vô thưởng vô phạt- cái sản phẩm bao cấp nặng nề đó hoá ra vẫn khá phổ biến trong công tác cán bộ hiện nay. Không ít người sống nhàn nhạt, không bản sắc, không chính kiến, nhưng "sống khoẻ" vì "bên nào" cũng cần họ"
Họ - có thể sống khỏe, rất khỏe. Nhưng dân tộc thì yếu, quốc gia thì yếu - bởi sự trì trệ, không phát triển nổi, không ra khỏi cái "bẫy trung bình".
Cũng vì thế, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc không còn sống, nhưng tên tuổi ông, nhân cách lãnh đạo vì dân của ông, vào lúc này, lại  được nhắc nhớ đến, được suy ngẫm, không phải chỉ như một con người cụ thể, mà như một "hiện tượng". Người lãnh đạo dám dũng cảm đổi mới tư duy trì trệ, xơ cứng và bảo thủ của chính mình, để hành động trước đòi hỏi của cộng đồng đói nghèo, tụt hậu.
Từ chủ trương "chui" của một địa phương, biến thành chính sách công khai một quốc gia. Sự vinh danh ông - Huân chương Hồ Chí Minh cao quý được nhà nước truy tặng mới đây là sự ghi nhận đúng đắn.
Chúng ta có thể không có nhiều những con người Kim Ngọc cụ thể, nhưng rất cần có những tư duy và phẩm cách Kim Ngọc trong các quan chức lãnh đạo, trước hết là với ngành mình.
Sự đổi thay số phận một cộng đồng dẫn đến đổi thay số phận một dân tộc, bắt đầu từ sự ý thức và dũng cảm nhìn nhận ra những vật cản trong tư duy của chính mình. Sự đổi thay ấy, vẫn rất cần cả trí và dũng. Trí để sáng suốt nghĩ đúng, hợp quy luật phát triển. Dũng để đủ nghị lực, bản lĩnh vì dân, dấn thân...
Nhưng muốn vậy, xã hội ta cũng cần phải có một không khí sinh hoạt tinh thần mới, văn minh và văn hóa, sòng phẳng và minh bạch. Đó là người có thẩm quyền biết lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác biệt, đừng vội vã "quy chụp" cấp dưới.
Bởi mất vợ, có khi nhiều bác càng ...thích, thích lắm, vì biết đâu sẽ có vợ mới (!). Nhưng mất lập trường là mất... "tất cả". Mà rất hiếm ai có thể chấp nhận mất tất cả, để mà "dấn thân".
Chân lý không phải ở kẻ mạnh, chân lý ở thực tiễn. Câu chuyện "ông Kim Ngọc" là bài học lịch sử hiện đại, nhãn tiền rất đắt giá, sâu sắc, thấm thía.
Nhưng đời nay, có nhiều người dám "dấn thân" như ông Kim Ngọc không? Có nhiều người có cả trí và dũng để vì dân, quên thân không?
"Con đẻ", "con rơi" và câu chuyện "khôn nhà dại chợ"
Cơ chế quản lý thị trường trẻ trung đã thay thế cho cơ chế quản lý bao cấp già lão hơn 20 năm rồi. Nhưng hình như chàng kinh tế thị trường vẫn chưa trưởng thành? Mới đây, ngày 7-10, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam trả lời phỏng vấn của VietNamNet với những phát ngôn cực kỳ ấn tượng, lý giải sự "chậm lớn" của "chàng".
TS Trần Đình Thiên cho rằng: "Kinh tế tư nhân ở Việt Nam chưa được đối xử như một động lực tăng trưởng. Có lẽ, điều ấy bắt nguồn từ một định kiến, thiên kiến, một sự "đóng đinh" vào quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Bởi theo TS Trần Đình Thiên, "Doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp (DN) Việt Nam, nhưng vốn liếng chỉ chiếm có 30% thôi, còn lại, 50% là của khu vực nhà nước và còn lại là khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). 90% số doanh nghiệp tư nhân đó lại là nhỏ và vừa, nhưng là theo tiêu chuẩn Việt Nam. Còn nếu theo chuẩn quốc tế, thì đó là những DN siêu nhỏ, li ti".
Nhìn tổng thể, quy mô như thế chứng tỏ trình độ còn yếu, thậm chí rất yếu. Mặc dù vậy, đóng góp của khu vực tư nhân lại có giá trị rất lớn. Khu vực này tạo ra rất nhiều việc làm....Trong khi đó, khu vực nhà nước chỉ tạo việc làm cho chưa đến 10% lao động. Còn nếu tính số làm việc trong DN nhà nước có lẽ chỉ khoảng 5%"...
Rõ ràng, với cách cư xử như vậy, chỉ có thể nói các DN nhà nước hiện vẫn là con đẻ, các DN tư nhân hiện vẫn là... con rơi. Mà con đẻ thì nó có hư có hỗn, có làm thất thoát đến tồi tệ tiền thuế của dân thì vẫn phải thương, phải cho tiền nuôi dưỡng tiếp...
Cũng chính vì được chiều chuộng, ưu đãi, mà những thằng con đẻ này luôn làm xã hội bất an, thậm chí phẫn nộ. Vì có vụ tham nhũng, ăn cắp nào xảy ra tại các DN tư nhân- con rơi không, hay chỉ xảy ra ở các thằng con đẻ- DN nhà nước?
TS Trần Đình Thiên đã chỉ ra cái cốt lõi của "phương pháp đối xử" nhất bên trọng, nhất bên khinh này. Đó là "Vấn đề cơ chế...Xuất phát từ một cái nhìn thiên kiến từ trước để lại. Đến khi chuyển sang thị trường, giải thích cho tường minh khái niệm "vai trò chủ đạo" này lại không rõ ràng, có khi còn bị né tránh, "kiêng kỵ".
Quan niệm lĩnh vực chủ yếu, ngành nghề ưu tiên, ngành mũi nhọn với vai trò chủ đạo của DNNN lẫn lộn nhau quá, thậm chí, đồng nhất nhau. Kết cục là DNNN cứ đương nhiên như là ngành mũi nhọn, ngành chủ lực. Do đó, được ưu tiên, ưu đãi mà không cần phải biện luận gì thêm về hiệu quả... Cách làm như vậy chưa bảo đảm sự minh bạch về thể chế, cơ chế".
Thế nhưng, hệ lụy không dừng ở đó. Việt Nam chúng ta đã gia nhập WTO, nhưng có những chuyên gia kinh tế cho rằng, trên trường quốc tế, Việt Nam vẫn chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường. Mà nếu vậy, nếu vẫn tồn tại sự đối xử bất công kiểu con đẻ, con rơi với các thành phần kinh tế, thì có nước ngoài nào dám mạo hiểm "đầu tư" cho sự "chậm hiểu, chậm lớn" của chàng trai kinh tế thị trường Việt Nam không?
Người viết bài này hồi nhỏ rất hay bị cha mẹ mắng vì cái tội đành hanh bắt nạt chị, bắt bẻ em, nhưng ra chợ mua lần nào cũng bị hố: "Chỉ được cái khôn nhà, dại chợ!"
Hu...hu..."Khôn nhà, dại chợ". Các cụ nói cấm có sai!
"Có kiêng...có lợi"
Ngày 7-10, cũng trên VietNamNet có bài viết: "Bệnh trì trệ khi bầu cử vào mùa", nêu hiện tượng: "Cứ gần đến mùa đại hội đảng, bầu cử quốc hội, hội đồng nhân dân...thì "thời tiết chính trị" nóng dần lên, hầu như nhiều hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội bị chậm lại do sự trì trệ của các cơ quan quản lý".
Ôi, ôi. Cái "hiện tượng" này nó "trẻ lâu" thế không biết.  Vì nó có từ thời bao cấp, khi mà người viết bài này còn rất non dại. Đến giờ, khuôn mặt người viết bài đã có nhiều "nếp gấp thời gian" thì diện mạo "hiện tượng" này, nó vẫn y nguyên. Kính nể!
Còn nhớ ngày xưa, mỗi lần chuẩn bị bầu bán, thì không khí xã hội nó náo nhiệt lắm. Cứ vào chợ, nhìn các hàng thịt thì biết: Thủ lợn, lòng lợn, chân giò lợn...ê hề, mà thông thường mặt hàng này hàng ngày rất khan hiếm. Thì ngược lại, ở các cơ quan công quyền, không khí làm việc của nhiều vị lại "thủ thế" bấy nhiêu. Họ giống như gái đẻ - yếu nên không dám ra gió. Mà gái đẻ thì như các bọ, các mệ nhà ta luôn dặn: "Có kiêng có lành con ạ"
Y hệt nhà báo Trần Trọng Thức đã viết: "Với các vị cho dù biết chắc chắn mình sẽ được "cơ cấu lại" thì vẫn có tâm lý thủ thế. Vội vàng chi việc ký giấy phép cho dự án này, chương trình nọ, bởi một sơ suất nhỏ có khi mất ghế như chơi. Bởi biết đâu ai đó đang lăm le vị trí của mình và đang chờ một cơ hội để ra tay?
Những vị đang vận động và kỳ vọng vào một vị trí cao hơn thì lại càng án binh bất động, chờ sau bầu cử, mọi chuyện yên ổn rồi thì có muộn màng gì đâu chuyện quyền và lợi, lúc này mà sơ sẩy một chút là hư chuyện.
Không chỉ những người có chức có quyền mà ngay doanh nghiệp cũng có những tính toán. Một doanh nhân kinh doanh bất động sản có tầm cỡ lâu nay đã quá quen với chuyện chạy chọt vậy mà giờ đây cũng phải dè dặt trong chuyện chung chi. Bởi có thể "đường dây" làm ăn sắp tới sẽ có sự đổi thay.".
Nhưng cũng không hẳn chỉ hoàn toàn là sự "kiêng cữ".
Ở một vị thế khác, không khí ấy nó hì hục, hối hả, hoan hỉ, háo hức. Hối hả như nhà báo Trần Trọng Thức viết: "Có biết bao doanh nghiệp hưởng lợi từ sự ưu ái của những quan tham sắp bước ra khỏi "vũ đài chính trị". Tâm lý vét chuyến tàu cuối giúp cho cả hai bên cùng có lợi."
Nhưng dù "bước vào" hay "bước ra", thì 'cái ghế" vẫn luôn là nhân vật trung tâm, là miếng nam châm kỳ diệu. Nó lặng lẽ, lạnh lùng, lầm lì, mà quyền lực vô biên. Nó hút tham vọng của con người không giới hạn. Nó cũng lại chi phối không chỉ hành vi, cách xử thế của một quan chức cụ thể, một doanh nghiệp cụ thể, mà còn toàn bộ tâm lý, sức khỏe của xã hội. Ăn thủ lợn, nhưng phải "thủ thế". Thời thế thế thời thời phải thế. Thì cái chuyện trì trệ trong các cơ quan quản lý là chuyện 'đến hẹn em lại lên", các bác ạ!

Gái đẻ, đẻ ra con thì phải kiêng- có kiêng có lành

Cái ghế, đẻ ra...tiền, thì cũng phải kiêng- có kiêng... có lợi

Chỉ không biết diện mạo cái hiện tượng "thủ thế" này nó trẻ đến bao giờ nhỉ?

 

6 thg 10, 2010

Người Việt khôn hay dại?

Người Việt khôn hay dại?


Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình. 

LTS: Sau khi đăng tải bài viết "Người Việt có thông minh không?", Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến thảo luận, tranh cãi xung quanh chủ đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu các góc nhìn khác nhau. Mời bạn đọc cùng thảo luận thêm.

Một cây đàn không làm nên dàn nhạc?
Người Việt có danh từ "Lương - tri", có nghĩa là: Con người ta chỉ có lương tâm - khi đi kèm tri thức. Từ "lương tri", theo gốc Latin là Conscience - cũng có nghĩa là ý thức. Nó được các triết gia từ cổ đại đến hiện đại bàn rốt ráo rằng, người ta chỉ có thể có lương tâm khi có ý thức và hiểu biết để phân biệt được cái hay - cái dở, cái tốt - cái xấu, cái phải - cái trái. Trình độ tri thức, khôn hay dại, vì thế vô cùng quan trọng, bởi vì nó chính là trình độ của lương tâm, cái sẽ xây nên tầm vóc của xã hội.
Người Việt có thông minh không, hay chỉ khôn lỏi thôi? Mới đây, chúng ta có Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Field thế giới về toán học, vậy thì ai dám nói là người Việt không thông minh?
Thế nhưng, vài chuyên gia đã chứng minh về cái gọi là "tâm lý đại biểu". Nghĩa là, thay vì bàn về sự thành - bại căn cứ vào bản thân mình, họ thường viện dẫn bằng tâm lý đại biểu, để nâng mình lên, rằng ở có người này người khác, ở phố kia, làng nọ, hay nước khác chẳng kém ai.


Giáo sư Ngô Bảo Châu
Xét về sự khôn - dại của người Việt ta cũng tương tự. Nếu cả nước ta lấy GS Ngô Bảo Châu ra để tự hào chính là dùng "tâm lý đại biểu" để ngụy biện cho mình. Lấy cái cố gắng, cái thông minh, cái thành công cao nhất của một con người bao phủ cho sự thiếu cố gắng, thiếu tư duy, và thiếu thành công cho bản thân mình, hay là cả dân tộc. Đó sẽ là một niềm kiêu hãnh nguy hiểm, vì một bông hoa không làm nên vườn hoa, một người không làm nên dân tộc, và như nhạc sĩ thiên tài Shuman (1810-1853) nói: "Cái hay của âm nhạc nằm trong dàn nhạc". Nếu chúng ta chỉ cậy vào một cá nhân để tự hào, thì thay vì chúng ta có một dàn nhạc đại toàn tấu thì chúng ta chỉ có mỗi một cây đàn đang độc tấu.
Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé
Trước hết chúng ta hãy đưa ra một khung cảnh chung về một sự so sánh. Dân tộc Thụy Sĩ giờ đây có khoảng 5 triệu dân, cách đây gần 2 thế kỷ, lúc chỉ có khoảng vài chục vạn dân nhưng họ đã nổi tiếng về loại hình quốc hội mở ngoài trời, và có bộ não yêu sự chính xác đến mức tạo ra những chiếc đồng hồ nổi tiếng hoàn cầu.
Dân tộc Bồ Đào Nha, cách đây vài thế kỷ, cũng chỉ có khoảng vài chục vạn dân, vậy mà họ đã đóng những đoàn thuyền buồm lớn, chạy đua với Tây Ban Nha, sang tận châu Mỹ để tìm kiếm những thuộc địa mới.
Lần ngược lịch sử, các dân tộc Bắc Âu cũng vậy, vào lúc chỉ có một nhúm dân số, họ đã từng trở thành những kẻ khét tiếng chinh phục trên biển.
Còn nước Anh , cách nhiều thế kỷ, vào lúc dân số cũng lèo tèo một vài triệu, nhưng đã giong buồm đi chinh phục khắp thế giới với 1 khẩu hiệu ngạo nghễ rằng "Mặt trời không bao giờ lặn trên Vương quốc Anh".
Thụy Sĩ nổi tiếng là nước sản xuất đồng hồ hàng đầu thế giới
Ở ngay cạnh nước Việt, có Campuchia, dân số bằng 1/ 10 nước ta, nhưng lại có công trình Angkor Wat, một quần thể kiến trúc kỳ vĩ và đồ sộ hàng đầu thế giới. Công trình này có lẽ được xây dựng vào lúc dân số của họ chỉ đếm tới hàng vạn. Còn Việt Nam thì sao?
Theo số liệu mới nhất, nước Việt Nam hiện đang đứng thứ 12 về dân số, như vậy là sắp lọt vào "top ten". Rõ ràng chúng ta không nhỏ, trái lại còn là một cường quốc về dân số. Nhưng phẩm chất dân số thì sao? Theo các đánh giá về tri thức, giáo dục, nhân bản, xã hội, pháp luật, hay kinh tế... chúng ta còn nằm ở mức rất thấp, gần sát đáy của nửa cuối các dân tộc trong các bảng xếp hạng.
Tại sao nước ta lớn vậy, mà nhìn chung vẫn thấy vô vàn các điều bất cập, nhếch nhác, nghèo hèn, lộn xộn? Tất cả điều đó chắc chắn là sản phẩm của bộ não, tức ý thức, tức trí khôn, chứ không phải sản phẩm của cơ thể - tức da thịt.
Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.
Tại sao dân số nước Việt ngót trăm triệu người vẫn là dân tộc bé? Chúng ta hãy tham khảo cái nhìn hết sức chính xác của lãnh tụ Tôn Trung Sơn, trong cuốn "Chủ nghĩa tam dân". Ông nói: "Trung Quốc là một nước hơn 400 triệu dân (thời đầu thế kỷ 20) nhưng mà như một bãi cát rời rạc, bởi vì ở Trung Quốc chỉ có gia tộc và tông tộc mà không có quốc tộc". Khi đó, quốc gia chỉ là thứ gia đình được trải rộng dài, kéo dài ra. Nó là một đơn vị gia đình phồng lên, với các "gia quy", chứ không phải là một quốc thể với hệ thống lập hiến của mình....
Không có trí tuệ thì mỗi người chỉ là em bé to xác, không thể nào trưởng thành. Thân xác là thứ càng lớn càng giật lùi, như Lão Tử ở Trung Quốc đã ví: Đứa bé mới đẻ nắm tay chặt đến mức ngay cả người lớn cũng không kéo ra được, nhưng càng lớn đứa bé càng già và yếu. Bản năng không bao giờ tiến bộ! Chỉ có lý trí và trí tuệ mới tiến bộ được.
Một con người không phát triển trí tuệ không lớn lên, một dân tộc không dựa trên trí tuệ thì mãi mãi còn bé nhỏ. Triết gia Hegel , ông tổ của môn biện chứng pháp đã xác định: "Những tư tưởng dẫn dắt thế giới". Một dân tộc không có những tư tưởng thì sẽ như những toa tầu không có đầu tầu.
Tư duy bé nên làm ăn cò con
Mà tư tưởng của người ta lớn lên như thế nào? Triết học phương Tây xác định rằng: Trí tuệ chỉ có mỗi một con đường thể hiện, đó là ngôn ngữ. Anh muốn khoe khéo khoe khôn ư? Muốn trình bày lý thuyết hay phát minh của mình ư? Anh phải có công trình được viết ra, đọc lên, hay công bố.
Người ta dứt khoát rằng: Cái gì không nói ra miệng được thì không phải là trí tuệ. Đừng ấp úng, gật gật, rồi bảo mình khôn hơn hay có nhiều công trình trong đầu hơn người khác. Làm gì có thứ nhạc sĩ không có bản nhạc! Họa sĩ không có tranh! Nhà chế tạo không có phát minh?!
Nhưng ngôn ngữ lớn lên bằng cái gì? Bằng cách cọ xát bằng đối thoại. Một cầu thủ không thể tiến bộ nếu không trải qua thi đấu! Ngôn ngữ cũng như trí tuệ của người ta cũng không thể tiến bộ nếu không được đối thoại. Trong Kinh Thánh có câu "Ở đâu không có bàn định thì không có mưu sâu". Đó là điều chắc chắn, vì tất cả những ban tham mưu trên đời hình thành là để người ta bàn định tìm kiếm những giải pháp tốt nhất.
Người Việt cũng xác định đẳng cấp cao nhất phải hướng đến công lý của ngôn ngữ như: "Khôn ngoan đến cửa quan mới biết". Nhưng trong đời sống, vì hám theo đuổi tính vụ lợi hơn chân lý, người Việt thường áp dụng: "Người khôn ăn nói nửa chừng/ Làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo".
Rồi người ta hướng đến sự khôn ranh: "Khôn ăn người, dại người ăn". Hoặc tìm cách nói nước đôi để bảo toàn lấy mình: "Làm trai cứ nước hai mà nói". Dẫn đến "quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật".
Tại sao người Việt lại có lối sống, lối thể hiện, cũng là tìm cách che giấu nước đôi như vậy? Đó là sự khiếp nhược vì sống quá lâu trong chế độ phong kiến. Sợ nói không đúng thì không phải đầu cũng phải tai, nên thà nói nước đôi để chuồn bề nào cũng tiện. Đó cũng là lối nói của mặc cảm "nô tài".
Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé
Nói nước đôi thì có thể bảo toàn mình, nhưng không cách gì tiến bộ được, vì nói nước đôi là cách chưa nói gì.
Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.
Nước chúng ta là tam nông: Nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Vì tư duy bé nên chúng ta làm ăn cò con. Vì ít thực phẩm nên chúng ta thường ăn vặt, dẫn đến khôn vặt, rồi có cả gian vặt nữa. Từ đặc điểm tam nông, chúng ta còn mắc các chứng: Tiểu nông, tiểu trí, và tiểu xảo.
Có một mệnh đề là, nếu người Việt thông minh thì chắc hẳn chúng ta đã có tầm vóc của một quốc gia hùng cường, nhưng rõ ràng chúng ta còn đang yếu về rất nhiều mặt. Rõ ràng đa số chúng ta mới khôn vặt, khôn trốn việc, khôn láu cá ăn người, chứ không phải cái khôn ngoan di sơn đảo hải như người Việt mong muốn và ao ước "có cứng mới đứng đầu gió".
Trái lại đa số chúng ta chỉ muốn làm cỏ giả để tìm nơi khuất gió. Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình.