14 thg 1, 2011

Suy nghĩ nhân bài “Khi bộ trưởng giao thông vận tải không biết về đường sắt!” của Tiến sĩ Trần Đình Bá - đăng bởi BVN ngày 12/01/2011


Bình Tâm
imageTrong cuộc sống có biết bao công việc cần phải làm được đặt ra cùng một lúc. Để không sa vào một núi công việc mà cuộc sống cùng lúc yêu cầu, cần phải biết phân loại công việc theo tính chất và vai trò của từng việc, tức theo tầm quan trọng và tính cấp bách của công việc.
Tầm quan trọng của công việc là do vai trò của công việc ấy tạo nên.
- Những công việc lặt vặt, giản đơn, độc lập, nhằm phục vụ cho những mục tiêu đơn lẻ, cá biệt trước mắt được gọi là công việc sự vụ.
- Những công việc có ảnh hưởng và liên quan đến nhiều công việc, nhằm phục vụ từng phần, trong từng thời điểm cho những nhu cầu quan trọng hơn được gọi là công việc chiến thuật, hay còn được gọi là công việc sách lược.
- Những công việc phục vụ cho mục tiêu hay nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất được gọi là những công việc mang tính chiến lược.
Chiến lược nói khái quátnội dung và cách thức hành động nhằm đạt được mục đích chính và quan trọng nhất đã xác định.
Nhiệm vụ chiến lược là những nhiệm vụ chính và quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược; nhiệm vụ chiến lược có được hoàn thành thì mục tiêu chiến lược mới được thực hiện.
Việc chiến lược quan trọng hơn việc chiến thuật và việc chiến thuật quan trọng hơn việc sự vụ.
Vì vậy, trên nguyên tắc, tính sự vụ phải phục tùng tính sách lược; tính sách lược phải phục tùng tính chiến lược.
Thứ tự ưu tiên phục tùng cũng là để ưu tiên về thời điểm, về thời lượng, về phương tiện và vật chất, cũng như về công sức khi thực hiện công việc.
Một vài ví dụ phản diện:
1/ Thủ tướng Chính phủ là người của những công việc vĩ mô có tầm chiến lược, nhưng lại trực tiếp ký nghị quyết cấm xe ba, bốn bánh gắn máy; đây là việc làm của cấp chiến thuật, cấp thừa hành là Bộ Giao thông Vận tải. Đã hơn 2 năm, nội dung nghị quyết này của Thủ tướng vẫn chưa được thực hiện bởi nhiều lý do, nhưng điều đáng nói ở chỗ, Thủ tướng là cấp chiến lược lại đi làm công việc của cấp chiến thuật; vì không hiểu việc nên đã hỏng việc.
2/ Vì Chính phủ không hiểu việc nên đã phân công sai việc. “Hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam” (VFA) là một tổ chức xã hội của các doanh nhân, vì lợi ích của doanh nhân, nhưng lại được giao một số chức năng của cơ quan nhà nước, vì vậy nên họ đã thao túng giá cả và hoạt động xuất nhập khẩu lúa gạo vì lợi ích của chính họ. Đã thế họ lại còn lớn giọng qua câu nói gây sốc đầy hào khí của người đứng đầu hiệp hội này: “Hiệp hội cần tính toán làm sao đưa ra mức giá thầu cho thật hợp lý. Vì khi đi dự thầu, mục đích không phải là nhân cơ hội này đưa ra cái giá thật cao để đạt thầu. Quan trọng là Việt Nam phải tham gia vấn đề an ninh lương thực thế giới (!?)”.
Vì không hiểu việc nên Chính phủ đã giao cho một tổ chức vụ lợi ở cấp chiến thuật có toàn quyền quyết định một việc mang tầm chiến lược là an ninh lương thực quốc gia, và mức sống của 80% dân số Việt Nam. Hiệp hội này sau đó đã đề nghị Chính phủ ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực khi giá gạo thế giới lên đến 1.000 đô la Mỹ/tấn, để rồi khi giá gạo rớt xuống mức thấp nhất mới đề nghị bán ra. Theo các chuyên gia, người nông dân đã mất đứt 400 triệu đô la Mỹ vì sự lỡ nhịp này.
Người ở tầm chiến lược không hiểu việc, người ở tầm chiến thuật không hiểu việc, không biết rồi đây con tàu xã hội với những người cầm lái này sẽ đi đâu về đâu? Nếu các việc làm trên không do sự kém hiểu biết mà lại do lợi ích cục bộ của một số lãnh đạo nhà nước kết cấu với các nhóm lợi ích thì mối nguy hại còn to biết mấy? Nếu sự kiện Quốc hội phân công cho Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch chính quyên cấp tỉnh là người đứng đầu tổ chức phòng & chống tham nhũng ở TW và địa phương là do thiếu hiểu biết về công việc mà phân công sai việc thì đã đáng trách, nhưng nếu đó lại là ý đồ nhằm bảo vệ những phần tử có nhiều khả năng tiềm ẩn để trở thành kẻ tham nhũng thì mối nguy hại này là cực kỳ to lớn, vì Quốc hội đại diện cho dân và là công cụ bảo vệ lợi ích cho dân đã bị thao túng.
Vai trò của công việc – tức tầm quan trọng của công việc do tính bức xúc của chính công việc ấy tạo nên.
Cái bức xúc là cái hết sức cấp bách, đòi hỏi phải sớm được giải quyết. Tính bức xúc của công việc được đánh giá theo hiệu quả, tác dụng mà nó sẽ đem lại cho mục tiêu khi công việc ấy được hoàn thành, hoặc tác hại của nó, nếu công việc không được hoàn thành.
Mức độ bức xúc quyết định tầm quan trọng và vai trò của công việc, vì vậy chính mức độ bức xúc là nhân tố quyết định tính sự vụ, tính sách lược, hay tính chiến lược của công việc.
Xác định tầm quan trọng của công việc – tức vai trò của công việc – là khâu quyết định đầu tiên cho việc tổ chức thành công một công việc, đồng thời còn là tiền đề tất yếu để xác định công việc chủ đạo và tìm ra khâu cơ bản cùng khâu đột phá của công việc cần làm.
(Vì tính chất của chủ đề, khâu cơ bản và khâu đột phá của công việc sẽ được tác giả trình bày ở một dịp khác).
Cái chủ đạo là cái đóng vai trò chủ yếu, vai trò trung tâm có tác dụng chi phối toàn bộ.
Cuộc sống đặt ra biết bao nhu cầu cần giải quyết và biết bao công việc cần phải xử lý hàng ngày và suốt trong cuộc đời. Điều kiện cơ bản quyết định cho sự thành công là phải tìm ra trong hàng loạt nhu cầu đó đâu là nhu cầu chủ đạo.
Nhu cầu chủ đạo là nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất, nếu thiếu nó thì mọi nhu cầu khác sẽ trở nên vô nghĩa, hoặc sẽ không thực hiện được; vì vậy đối với một nhu cầu, một nhiệm vụ, một sự nghiệp, hay một thời kỳ lịch sử thì việc xác định công việc chủ đạo cũng chính là xác định mục tiêu chiến lược cho nhu cầu, cho nhiệm vụ, cho sự nghiệp, hay cho thời kỳ lịch sử ấy vậy.
Công việc chủ đạo phải đáp ứng được hai yêu cầu, khi nó được giải quyết thì một mặt sẽ đạt được mục đích đã đề ra, mặt khác sẽ tạo tiền đề thuận lợi để giải quyết các công việc có liên quan còn lại, tức sẽ giúp hóa giải, hoặc làm giảm bớt sự gay gắt, sự bức xúc của các yếu tố cơ bản còn lại có liên quan đến các công việc, khiến cho mục đích đạt được sẽ trọn vẹn hơn.
Để xác định tính chủ đạo của nhu cầu, cần đặt ra câu hỏi rằng:
- Công việc ấy bức xúc đến đâu, sự bức xúc đó chỉ là bức xúc so với cục bộ hay so với toàn cục?
- Công việc ấy sẽ giải quyết nhu cầu cơ bản của mục tiêu chiến lược đến mức độ nào; chỉ một phần hay toàn cục?
- Công việc ấy sẽ có tác động thuận lợi hay khó khăn cho các nhiệm vụ cơ bản còn lại của mục tiêu chiến lược?
- Tính khả thi, tức điều kiện con người, điều kiện vật chất kỹ thuật và hoàn cảnh, bối cảnh có đảm bảo cho việc thực hiện công việc ấy?
Ví dụ:
1/ Đường sắt cao tốc Bắc – Nam (ĐSCTBN) có phải là nhu cầu chủ đạo, nhu cầu bức xúc nhất của đất nước, của nền kinh tế hiện nay không, hay chỉ là nhu cầu bức xúc của nội bộ ngành giao thông, hay chỉ là nhu cầu bức xúc của một số lãnh đạo trong Chính phủ và trong Bộ Giao thông?
Về cục bộ ngành: Độ bức xúc của ĐSCTBN so với nhu cầu đáp ứng và cải thiện tình trạng giao thông đã thiếu lại đang xuống cấp nghiêm trọng đều khắp trong cả nước, nhất là vùng sâu, vùng xa hiện nay thì bức xúc nào lớn hơn?
Về toàn cục: Độ bức xúc của ĐSCTBN so với nhu cầu của ngành điện, của giáo dục & văn hóa, xã hội và những nhu cầu khác của nền kinh tế quốc dân hiện nay thì bức xúc nào lớn hơn?
Về cá nhân: Giải đáp được các câu hỏi trên là có thể trả lời nhu cầu bức xúc này có phải là riêng của một số lãnh đạo trong Chính phủ và trong Bộ Giao thông hay là của toàn cục?
2/ Nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ Tổ quốc có còn là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam?
ĐSCTBN sẽ phục vụ ai và sẽ phục vụ gì cho chiến lược phát triển kinh tế? Toàn dân gồm mọi thành phần dân cư sẽ sử dụng phương tiện này, hay chỉ là tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội? ĐSCTBN sẽ phục vụ cho nhu cầu vận chuyển và giao lưu hàng hóa, hay chỉ phục vụ cho nhu cầu đi lại, thăm viếng và du lịch; trong hai nhu cầu ấy thì nhu cầu nào bức xúc hơn?
Sau khi xây xong ĐSCTBN thì mức vay nợ nước ngoài của Chính phủ sẽ đạt ngưỡng nào, có còn là ngưỡng an toàn không? Phụ thuộc quá lớn về nợ nước ngoài liệu mục tiêu an ninh quốc phòng có còn ở ngưỡng an toàn không?
Như vậy ĐSCTBN phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược bảo vệ Tổ quốc, hay chỉ là sách lược của nhóm lợi ích nào đó thôi?
3/ Sau khi dồn vốn cho ĐSCTBN thì bài toán vốn để phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội còn lại sẽ tính ra sao? Lấy vốn đâu? Hay các lĩnh vực ấy sẽ phải hy sinh cho ĐSCTBN mà chịu sự đình trệ? Sự phát triển của ĐSCTBN sẽ kéo đất nước đi lên hay đưa đất nước lún sâu vào công nợ và phụ thuộc nước ngoài?
4/ Với mức sống bình quân hiện tại và trong tương lai thì số lượng lượt người sử dụng ĐSCTBN là bao nhiêu? Trong bao năm sẽ thu hồi vốn? Thời gian thu hồi vốn có đảm bảo trả nợ nước ngoài và bù đắp hao mòn hữu hình lẫn hao mòn vô hình?
Trình độ và năng lực quản lý của Bộ Giao thông nói riêng và của ngành giao thông nói chung còn kém xa nhu cầu cần phải có hiện nay, thế thì ý muốn cần phải có ĐSCTBN với bất cứ giá nào như hiện nay có phải là một sự “đèo bòng”của con ốc mang chưa nổi cái hiện có của bản thân mình ? Hay đây chỉ là một cách biểu diễn mang tính quảng cáo cho bản thân của ông Bộ trưởng trước kỳ đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng CSVN?
Cuối cùng ai sẽ trả nợ? Tại sao sắp mãn nhiệm kỳ rồi mà Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và nhóm người cùng quan điểm cứ nhất quyết bắt Quốc hội và Chính phủ phải quyết về nhiệm vụ của nhiều thế hệ nhiệm kỳ sau?
Vậy dự án ĐSCTBN có khả thi không?
Câu nghi vấn và kết luận của một chuyên gia am hiểu trong ngành giao thông - Tiến sĩ Trần Đình Bá – (Hội Kinh tế & Vận tải đường sắt Việt Nam) rằng “Bộ trưởng Giao thông Vận tải không biết về đường sắt!” có lẽ là không sai tí nào. Không những thế, ông Bộ trưởng này chỉ là cấp chiến thuật chưa thạo việc, hà cớ gì lại tham lam đèo bòng công việc của cấp chiến lược?
Xin Quốc hội và Chính phủ chớ lặp lại sai lầm nhiều lần trong việc giao chức năng chiến lược cho cấp chiến thuật không thạo việc đảm trách như đã từng mắc phải! Hậu quả sẽ khôn lường!
B.T.

12 thg 1, 2011

Khi bộ trưởng giao thông vận tải không biết về đường sắt!

TS Trần Đình Bá – Hội Kinh tế & Vận tải đường sắt Việt Nam

“Thật đáng tiếc cho Bộ trưởng Giao thông Vận tải không biết về tầm quan trọng đặc biệt của Đường sắt và quốc gia và luật Đường sắt Việt Nam”, đó là tâm sự đầy nhức nhối của TS Trần Đình Bá – Hội Kinh tế & Vận tải đường sắt Việt Nam với các báo giới sau khi Bộ trường Hồ Nghĩa Dũng lại tuyên bố “Tái khởi động đường sắt cao tốc là cần thiết và đúng luật, sẽ trình lại Quốc hội dự án đường sắt cao tốc” và tiếp tục thuê chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu đường sắt cao tốc Hà Nội – Vinh và TP HCM – Nha Trang (03/01/2011).
Để rộng đường dư luận, tòa soạn xin đăng toàn văn quan điểm của tiến sỹ!

Đường sắt là một loại hình giao thông cơ giới ra đời sớm nhất mà nay đang trở thành phương tiện giao thông “Vua”, được tất cả các nước trên thế giới trân trọng gọi là “đường sắt quốc gia” hay “đường sắt chiến lược”.
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt này, nước ta đã xây dựng luật Đường sắt Việt Nam lần đầu tiên với 8 chương, 114 điều đã được Quốc hội thông qua trong phiên họp ngày 19/5/2005, và có hiệu lực thi hành từ tháng 1/2006. Song thật đáng tiếc trong quá trình hành pháp, ngành chủ quản là Bộ Giao thông Vận tải, đứng đầu là Bộ trưởng đã sai lầm khi lập dự án đường sắt cao tốc mà Quốc hội bác theo đúng luật đường sắt Việt Nam, giờ đây lại hăng hái tuyên bố sẽ tiếp tục trình lại Quốc hội về hai tuyến đường sắt cao tốc do nhóm chuyên gia của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện! 

Khi siêu dự án về đường sắt cao tốc coi luật đường sắt Việt Nam, luật Xây dựng… chỉ là cái đinh!

Không thể đi hết thế giới để trải nghiệm nhưng hầu hết các quốc gia văn minh có nền Dân chủ lập hiến thì các dự án nghiên cứu tiền khả thi hay khả thi về đầu tư thì chương mục quan trọng đầu tiên phải là “Cơ sở pháp lý để lập dự án”. Đó là luật và các văn bản dưới luật cùng các tài liệu quy hoạch, thỏa thuận giao đất, các tài liệu liên quan… để khởi động dự án trong trạng thái hợp hiến và hợp pháp để đảm tính khả thi trước khi thỏa sức mô tả tầm vóc tối quan trọng – hay quan trọng – của “sự cần thiết phải đầu tư”. 

Việt Nam là một quốc gia Dân chủ lập hiến, “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật” thì siêu dự án đường sắt cao tốc 56 tỷ USD vào hàng lớn nhất thế giới phải dựa vào luật của chính nước sử dụng, đó là Việt Nam. Thật đáng tiếc là Luật đường sắt Việt Nam quy định cụ thể rõ ràng về quy định lập dự án, thiết kế, thẩm định, sử dụng đất đai, hành lang an toàn, quản lý khai thác, bảo vệ an toàn, đảm bảo an ninh, thẩm tra thẩm định, quy định công lệnh chạy tàu, quy định kết nối mạng đường ray… chỉ cho đường sắt Quốc gia và đường sắt Đô thị mà không hề có lấy một điều khoản nào quy định cho đường sắt cao tốc. Luật là “con đẻ” của Hiến pháp dân chủ, thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, nguyện vọng toàn dân, được thông qua Quốc hội chưa cho phép sự có mặt đường sắt cao tốc do trong quá trình xây dựng luật, các đại biểu của dân khi thảo tuận về luật coi đây là một loại hình giao thông siêu hiện đại đắt tiền, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, địa hình, khí hậu, phân bố dân cư cùng chiến lược kinh tế xã hội hay quốc phòng – an ninh của Việt Nam nên đã không đưa vào luật đường sắt Việt Nam.
Do chưa có hành lang pháp lý cho đường sắt cao tốc nên Luật Xây dựng, luật Doanh nghiệp, luật đầu tư, Tài nguyên môi trường, Năng lượng, Quốc phònmg – An ninh… vẫn chưa có điều khoản nào làm lối mở cho đường sắt cao tốc từ tiêu chuẩn thiết kế, thẩm định, lập dự án, định mức, đơn giá, tỷ suất đầu tư… để tính ra giá thành, xét đến an toàn môi sinh môi trường, sử dụng quỹ đất, xử lý khi có tranh chấp và xử lý bồi thường khi có sự cố, v. v. 

Không dám kể ra nhiều tiêu chí, chỉ trong diện hẹp về kinh tế thì việc lập dự án đường sắt cao tốc tại Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng luật đường sắt Việt Nam và luật Xây dựng cơ bản. Con số 55, 7654321 tỷ USD – làm tròn 56 tỷ USD – cho 1570 km đường sắt cao tốc để báo cáo trước Quốc hội chỉ là chuyện “ phịa “ vì không có một cơ sở pháp lý nào để đưa vào tính khái toán cho dự án. Tỷ suất đầu tư, tức đơn giá cho 1 km đường sắt, do Bộ Xây dựng ban hành đang áp dụng hiện nay chỉ dành cho đường sắt quốc gia mà thôi, không thể áp dụng cho đường sắt cao tốc. Còn nếu áp dụng tỷ suất đầu tư của đường sắt cao tốc tại nước ngoài thì hãy tham khảo giá thành được cho là rẻ nhất sau đây: Đài Loan làm 350 km đường sắt cao tốc tốn kém 18 tỷ USD mất 15 năm, ta làm gấp 5 lần số đó nội suy tuyến tính cũng phải 90 tỷ USD chưa tính trượt giá theo thời gian. Như vậy 56 tỷ USD chỉ đủ “thế chấp”. Còn việc dự kiến thời gian thi công 20 năm thì “duy ý chí”, nhanh lắm cũng phải 40 năm. Ngay dự án đường sắt cao tốc do JICA lập, thẩm định dự án là Bộ Kế hoạch Đầu tư và JICA là “vừa đá bóng vừa thổi còi”, vừa làm quản lý Nhà nước vừa làm doanh nghiệp làm trái luật Xây dựng, luật Doanh nghiệp.
JICA là Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, chưa phải là một “doanh nghiệp hành nghề tư vấn thiết kế” nên không thể lập một dự án đầu tư theo luật Xây dựng của Việt Nam.
Không cần đi thuê chuyên gia nước ngoài mà tốn kém ngân sách Nhà nước, một kỹ sư xây dựng – giao thông bình thường của Việt Nam, theo “đơn giá thực tiễn” đường sắt cao tốc tại Đài Loan cũng nội suy tính được 250 km đường sắt cao tốc Hà Nội - Vinh là 12 tỷ USD, 500 km TP HCM – Nha Trang là 25 tỷ USD “để biết có khả thi hay không”. Hội nghị các nhóm tài trợ Quốc tế về ODA vừa họp tại Hà Nội chỉ dành cho Việt Nam 7 tỷ USD chia cho 10 năm và trên nhiều lĩnh vực thì liệu có phép màu nào để đủ vốn 37 tỷ USD cho hai dự án đường sắt cao tốc đã được chia nhỏ để dễ dàng “lọt qua barie” của Quốc hội trí tuệ!?

Còn nhớ khi đưa ra Quốc hội tranh luận dự án đường sắt cao tốc 56 tỷ USD, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Hội Kinh tế vận tải đường sắt Việt Nam đã cảnh báo sớm sự mơ hồ khi coi thường luật pháp cũng như hiệu quả kinh tế, thời gian hoàn vốn… TS Vương Đình Khánh – chủ tịch danh dự hội Kinh tế vận tải đường sắt Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty đường sắt Việt Nam – đã gọi đây là “một dự án được lập với trình độ i - tờ, bỏ qua luật đường sắt Việt Nam”, còn GSTS Phạm Công Hà – Chủ tịch hội Kinh tế & Vận tải đường sắt Việt Nam – cảnh báo “ảo tưởng hành khách” và “mỗi tháng làm một cây cầu Thanh Trì liệu có nổi?”. Họ là những chuyên gia đường sắt kỳ cựu có lương tâm đã sáng suốt và dũng cảm lên tiếng bảo vệ luật đường sắt Việt Nam.
Làm 1570 km đường sắt cao tốc dài nhất thế giới có thay thế được đường sắt quốc gia?!
“Kiên cố hóa toàn bộ 3200 km đường sắt quốc gia khổ 1 mét chỉ để chở hàng hóa, còn đường sắt cao tốc chỉ để chở hàng khách”, Bộ trưởng Giao thông Vận tải đã sai lầm chiến lược khi có tham vọng như vậy!
Đường sắt cao tốc là một loại đường sắt nhẹ tốc độ cao chỉ chở được duy nhất là hàng khách và hành lý theo người, một kiện hàng 500 kg đã không chở được, nên không thể thay thế được vai trò quan trọng đặc biệt của đường sắt quốc gia, càng không thể kết nối vào mạng đường sắt quốc gia cũng như quốc tế! Nó là loại “đường sắt quý tộc”, đại xa xỉ và đắt nhất thế giới. Đài Loan đang phải trả giá cho đường sắt cao tốc do lãng phí, lại lệ thuộc hoàn toàn vào sự điều hành của các chuyên gia nước ngoài, không chỉ một nước mà là đa quốc gia nên gần như mất tính tự chủ và đang thua lỗ. 

Cả thế giới mới chỉ có khoảng 4500 km đường sắt cao tốc, ta làm 1570 km đường sắt cao tốc để thay thế đường sắt quốc gia thì quả thực Bộ trưởng Giao thông Vận tải trở thành “người thích đùa”!
Giá trị sử dụng của đường sắt quốc gia cao gấp cả trăm lần so với đường sắt cao tốc vì nó chở được hàng siêu trường siêu trọng, chở nhiều hành khách, giá thành rẻ, hao phí năng lượng ít, chi phí vận hành bảo dưỡng thấp, phù hợp với mọi loại địa hình, khí hậu thời tiết, chở được nhiên liệu, nguyên liệu, xe tăng đại bác nên phù hợp cho cả kinh tế xã hội cũng như quốc phòng và an ninh.
So sánh việc đầu tư 56 tỷ USD cho 1570 km đường sắt cao tốc với việc đầu tư 5-6 tỷ USD để mở rộng và hiện đại hóa toàn bộ 3200 km đường sắt quốc gia khổ 1 mét qua 1. 425 thì hiệu quả đầu tư vào đường sắt quốc gia rẻ hơn 10 lần song giá trị sử dụng cao gấp 100 lần và thời gian thi công lại nhanh hơn, chỉ có 3 năm so với 30 năm của dự án đường sắt cao tốc

Khi Bộ trưởng Giao thông Vận tải đã nói liều trước cả một Quốc hội đầy trí tuệ!

Bộ trưởng “quyết tâm chính trị” hòa mạng bằng được 5 tuyến đường sắt đô thị khổ 1.435 mét vào mạng đường sắt quốc gia trong khi đường sắt của ta vẫn đang duy trì khổ 1 mét thời nô lệ thì làm sao hòa mạng được. Nếu đường sắt quốc gia có mở rộng 1.435 mét vẫn không thể làm vì theo nguyên Tổng cục trưởng Đường sắt Việt Nam Trần Mẫn đã cảnh cáo các Tiến sĩ đường sắt dưới quyền rằng “Các anh ấu trĩ quá, không ai hòa mạng đường sắt đô thị vào đường sắt quốc gia. Vì sao ư? Đó là hai hệ đường sắt khác nhau hoàn toàn, hòa vào để được gì?”. Ông là người gắn cả cuộc đời trai trẻ cho đường sắt một nước Độc lập, được đào tạo cơ bản tại Liên Xô và Trung Quốc, là người chỉ huy đoàn tàu Thống Nhất lịch sử từ TP Hồ Chí Minh vào ga Hà Nội kéo còi báo hiệu thông tuyến xuyên Việt vào tháng 12/1976.
“Việt Nam làm đường sắt cao tốc để hòa mạng quốc tế xuyên Á” theo Bộ trưởng Giao thông Vận tải là siêu thực vì hiện nay trên thế giới chưa có một quốc gia nào có chiều dài đường sắt cao tốc vượt qua biên giới để nối mạng quốc tế. Đường sắt cao tốc không thể nối mạng vào đường sắt quốc gia vì tải trọng hai loại khác nhau hoàn toàn và ở hai hệ điều hành kỹ thuật độc lập như nguyên Cục trưởng đường sắt Trần Mẫn đã từng cảnh báo cho các tiến sĩ dưới quyển mình. 

Sau khi Quốc hội đã biểu quyết bác bỏ mà Bộ trưởng Giao thông Vận tải vẫn tuyên bố “Tái khởi động đường sắt cao tốc là cần thiết và đúng luật, không thể không làm đường sắt cao tốc”, điều đó cho thấy ông Bộ trưởng thực sự vượt trên cả thẩm quyền tối cao của Quốc hội và vượt trên cả luật đường sắt Việt Nam.
Rõ ràng rằng siêu dự án đường sắt cao tốc 56 tỷ USD đã vi phạm luật và Bộ trưởng Giao thông Vận tải cũng đã thực sự liều khi nói ra những điều trước cả một Quốc hội gồm những đại biểu trí tuệ do 86 triệu dân lựa chọn bầu ra trong đó có nhiều Giáo sư Tiến sĩ khoa học ưu tú!
Khi cho rằng “đường sắt nước ta 130 năm lịch sử đã bị lấn chiếm” thì Bộ trưởng đã thổi phồng sự thật và kết tội chính mình vì Nghị định 37/CP về bảo vệ an toàn hành lang đường sắt quốc gia quy định Bộ Giao thông Vận tải phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ. Cho rằng “mở rộng đường sắt khổ 1.435 m sẽ làm ngưng trệ giao thông suốt 3-4 năm” thì Bộ trưởng đã coi 1000 giáo sư tiến sĩ của Bộ Giao thông Vận tải là vô dụng, chịu “bó tay” và thất bại ê chề trước một hệ thống đường sắt lạc hậu hơn cả thời kỳ nô lệ trước 1945!
Còn nói rằng “Phải kiên cố hóa đường sắt khổ 1 mét chỉ dành để chở hàng hóa” là Bộ trưởng đã công khai giết chết vai trò đường sắt quốc gia để dọn đường cho dự án đường sắt cao tốc thay thế vai trò đường sắt quốc gia! 

Thật đáng tiếc, dưới quyền Bộ trưởng Giao thông Vận tải có 1000 giáo sư tiến sĩ trên các lĩnh vực đường sắt, hàng không, đường bộ, đường biển, đường sông, quy hoạch giao thông, kinh tế vận tải, khoa học công nghệ, nhiều luật gia giỏi… của 10 trường đại học, học viện, hàng chục viện nghiên cứu Giao thông Vận tải, các Cục, Vụ, Viện của Bộ làm tham mưu cho Bộ trưởng lại không hiểu về đường sắt, không nắm luật đường sắt Việt Nam, làm tham mưu sai cho Bộ trưởng trong dự án đường sắt cao tốc 56 tỷ USD đầy tai tiếng!
Là bộ chủ quản giúp Quốc hội dự thảo luật đường sắt Việt Nam để thông qua để thực thi mà lại vi phạm luật do chính mình chấp bút thì khác nào xé luật.
Sau 5 năm thực thi luật đường sắt Việt Nam (1906-2010), đường sắt quốc gia đã không được quan tâm mở rộng hiện đại và đang từng ngày từng giờ tụt hậu không phanh, thua xa cả vận tải đường sông và thực sự đang trong thời kỳ phá sản vì thị phần ngày càng giảm dưới 6%!
Đã đến lúc phải nhấn thấy được tầm quan trọng của đường sắt quốc gia là “động mạch chủ”, là phương tiện giao thông vận tải chủ lực chiến lược quan trọng đặc biệt mang tầm vận mệnh Đất nước, là tài sản quốc gia khổng lồ (trị giá tài sản trên 30 tỷ USD) là nguồn lợi to lớn vĩnh cửu của cả một dân tộc phải được hiện đại và khai thác có hiệu quả để phục vụ nhân dân.
Kéo dài sự lạc hậu của đường sắt quốc gia khổ 1 mét thời nô lệ đang là nỗi đau của toàn xã hội và đang từng bước thủ tiêu dần đường sắt quốc gia. Đó là nguyên nhân của thực trạng quá tải và đại họa tai nạn giao thông hiện nay. 

Bởi vậy, khi một Bộ trưởng Giao thông Vận tải không biết về tầm quan trọng đặc biệt của đường sắt quốc gia và luật đường sắt Việt Nam thì đó sẽ là tổn thất nặng nề cho Đất nước, hậu quả nhãn tiền đó là tính mạng nhân dân trong thảm họa quốc gia vể tai nạn giao thông mỗi năm làm 13 ngàn người chết, thiệt hại kinh tế 1 tỷ USD và hỗn loạn giao thông tại Việt Nam sẽ còn kéo dài mà không có hồi kết!

T. Đ . B.

10 thg 1, 2011

Khát vọng của dân

Tương Lai
Người dân mong muốn Đại hội thể hiện rõ tính chiến đấu và sự trung thực của người cộng sản, không tránh né những vấn đề có tính nguyên tắc, công khai và minh bạch trong tranh luận chứ không dễ dàng xuôi theo những vấn đề đã được chuẩn bị sẵn.
Tinh thần thời đại

Thế giới đã biến đổi quá nhiều đến mức những công thức để thành công trong ngày hôm nay hầu như chắc chắn sẽ là những công thức để thất bại trong ngày mai”. Ý tưởng ấy là của Rowan Gipson nói với các nhà doanh nghiệp về cuộc cạnh tranh khốc liệt trong thời đại chúng ta đang sống. Và chắc là ý tưởng ấy không chỉ dành riêng cho các doanh nhân.

Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI vừa kết thúc, chúng ta đang bước vào thập kỷ thứ hai. Những diễn biến của cuộc sống trong thập kỷ vừa qua cho thấy một điều tưởng như nghịch lý: chuẩn mực chính là sự thay đổi! Khái niệm đó diễn đạt một đặc trưng của nền kinh tế số: luôn tìm kiếm sự mất cân bằng trong phát triển. Một hệ thống mạng phức tạp nếu đứng mãi ở trạng thái cân bằng và ổn định sẽ là nguy cơ đẩy tới sự đình đốn và suy thoái. Ở đây, người ta đã dùng một hình ảnh thú vị để nói về sự diễn tiến của nó: sự phá hủy sáng tạo. Nếu hiểu sự phá huỷ sáng tạo nhằm phá vỡ cái trạng thái cân bằng cũ nhằm tạo ra trạng thái cân bằng tương đối mới tạm thời trong cả quá trình vận động, thì đây không chỉ là đặc trưng của kinh tế số mà cũng là logic của phát triển nói chung. Đương nhiên, cần phải có một con mắt biện chứng để nhìn sự vật, thì mới thấy ra được sự phá huỷ sáng tạo nhằm vượt qua sự ổn định trì trệ để thúc đẩy những bước phát triển mới.

Đừng quên rằng “…trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong”*. Quan điểm biện chứng ấy của Hégel được Ăng-ghen dẫn ra cách đây gần 2 thế kỷ liệu có thể giúp làm sáng tỏ những ý tưởng vừa trình bày không? Với cái nhìn biện chứng đó mà dõi theo sự vận động của thế giới trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, với những biến động dồn dập mà trước đó khó hình dung nổi, càng hiểu ra rằng sự biến đổi chính là một hằng số trong thế giới mà chúng ta đang sống và khái niệm “chuẩn mực chính là sự thay đổi” là logic mới do thời đại tạo ra. Thử thách lớn song cũng là hạnh phúc lớn cho chúng ta là chứng nhân của những sự kiện mang tầm vóc lịch sử làm thay đổi diện mạo chính trị của thế giới trong dòng chảy bất tận của cuộc sống.

Dòng chảy của cuộc sống ấy vẫn miệt mài không một phút giây ngừng nghỉ song không phải là cái trước tiếp cái sau theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những nhân tố mới, những tương tác mới tạo ra khả năng nảy sinh những hợp trội không dự báo trước được. Trật tự mới, tổ chức mới là do các thành phần liên kết, tương tác với nhau mà cùng tạo thành, chứ không phải được lập nên do một mệnh lệnh nào từ bên ngoài, từ bên trên quyết định. Trong dòng chảy miệt mài với những đột phá những hợp trội ấy của cuộc sống, con người tịến vào những miền đất mới mà hành trang cần thiết nhất chính là đôi mắt mới của một tư duy mới. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước.

Cũng là một khuyến cáo với doanh nhân từ người được giải Nobel về kinh tế năm 2009 đại ý như sau: Câu hỏi chúng ta phải tự đặt ra là liệu chúng ta có đủ dũng khí để phá bỏ các trung tâm quyền lực truyền thống, nhờ đó quân lính sẽ được xem trọng hơn vị tướng không? Trong một trận bóng đá, có cả thảy 22 cầu thủ song vào mỗi thời điểm nhất định, chỉ duy nhất một cầu thủ có bóng. 21 người còn lại hình thành nên một cấu trúc. Cấu trúc mở mà chúng ta đang tham gia không đề cập đến cầu thủ đang có bóng mà là về cấu trúc của 21 cầu thủ còn lại. Mọi tổ chức hướng tới tương lai cần tiến hành kiểm nghiệm thực tế về thiện chí và khả năng phi cấu trúc hoá của mình để có thể thích ứng được với môi trường kinh doanh mới trong tương lai. Tầm nhìn của chúng ta đã đủ để hình dung tổ chức của mình dưới dạng các hình thái sinh tồn luôn cộng sinh và biến hoá cùng với thị trường chưa? Liệu chúng ta có dám hy sinh để bước ra khỏi cái tôi và cho nhân viên cấp dưới quyền được phát biểu ý kiến? Liệu chúng ta có đủ dũng cảm để phi cấu trúc hoá cơ chế cứng nhắc hiện tại dù biết nó từng vận hành tốt trong quá khứ? Đấy là chưa nói đến chuyện những sai lầm từng dẫn dắt sự vận hành cuộc sống trong quá khứ!

Là khuyến cáo với các nhà doanh nghiệp, nhưng có lẽ vấn đề được đặt ra có ý nghĩa rộng hơn nhiều. Sự sống không ngừng sinh sôi nảy nở. Màu xám của mọi lý thuyết đã có lúc trùm lấp lên vẻ non tơ của cây đời khiến cho tư duy của không ít người bị cầm tù quá lâu trong những giáo điều đã được học thuộc lòng. Vậy mà, có những thời điểm quyết định vào các bước ngoặt lịch sử có tầm quan trọng lớn lao hơn các thời điểm khác, bởi vì những thay đổi chúng tạo ra là cực kỳ sâu rộng, nhiều chiều và khó tiên đoán. Phải chăng thời điểm chúng ta đang sống cũng có dáng dấp của tầm vóc lịch sử ấy khi mà dân tộc ta đang đối diện với những câu hỏi lớn về sự tồn tại, hội nhập và phát triển trước những thách thức mới rất gay gắt, đồng thời cũng đứng trước vận hội mới đầy triển vọng nếu đủ bản lĩnh vượt qua những thách thức ấy.

Mệnh lệnh của cuộc sống


Trước thềm của Đại hội XI của Đảng, vấn đề này đang đặt ra một cách bức xúc. Bức xúc vì nó thể hiện khát vọng mãnh liệt của nhân dân ta. Khát vọng ấy đang đặt ra với Đảng, một đảng chính trị từng gánh vác sứ mệnh lịch sử thật vẻ vang, kế tục một cách xứng đáng truyền thống quật khởi của ông cha ta, làm nên Cách mạng Tháng Tám, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta tiến hành những cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại những kẻ thù xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội trong thế kỷ XX, đưa dân tộc ta bước lên vũ đài quốc tế với tư cách một dân tộc độc lập với bản lĩnh vốn có của mình để tồn tại và phát triển trong một vị thế địa-chính trị đặc thù, đầy thử thách cam go.

Trên bước đường gian nan của công cuộc dựng nước, hàn gắn những vết thương chiến tranh kéo dài non nửa thế kỷ mà ít dân tộc nào trên trái đất này phải gánh chịu kiên cường và khốc liệt đến vậy, những bước gập ghềnh va vấp là không thể tránh khỏi, thậm chí có lúc đứng bên bờ vực của sụp đổ, nhân dân ta vẫn đủ bản lĩnh cùng với Đảng của mình vượt qua hiểm nguy để có ngày hôm nay. Có được như vậy vì Đảng biết nghe dân, biết từ sáng kiến của dân mà đúc kết thành chủ trương, đường lối để lãnh đạo công cuộc Đổi Mới thắng lợi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”. **

Quả thật, ý dân là ý trời. Xin chỉ gợi lại một cột mốc lịch sử. Dân đã tự mình cởi trói, bung ra trong sản xuất, đẩy tới chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13.1.1981 mở đường cho nông dân làm ăn để có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5.4.1988, trả lại quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh cho hộ kinh tế gia đình nông dân, tạo nên một chuyển biến quyết định về nông nghiệp, nông thôn, để từ đó thúc đẩy sự chuyển biến của công nghiệp và đô thị. Chỉ cần một tháo gỡ về đường lối, chưa đòi phải đầu tư vốn liếng và kỹ thuật gì phức tạp cả, mà từ chỗ phải nhập 199,5 ngàn tấn gạo năm 1988 và ở Miền Bắc lúc bấy giờ có khoảng 3,6 triệu người bị thiếu đói trầm trọng, thì sang đến năm 1999, cũng con người ấy, đồng ruộng ấy, sản xuất lương thực đã tăng vọt lên 21 triệu tấn, bình quân lương thực vượt qua ngưỡng trên 300kg/ người của thời kỳ 1955-1958, lại xuất khẩu được 1,4 tấn gạo!
Có lẽ phải nói thêm cách suy nghĩ thật giản đơn nhưng hết sức năng động và sáng tỏ của người nông dân, dám đương đầu với những áp lực của những lực cản của cái cũ, “đang suy tàn nhưng được tập quán thần thánh hóa” như Ph.Ăng-ghen đã từng chỉ ra. Trước những truy chụp nặng nề và quái ác về “lập trường, quan điểm”, có đảng viên đã phản ứng thẳng thừng: “hoặc là con cháu của Mác, hoặc là chú bác với bọn phản động, thế thôi, đói quá phải chui, còn đúng hay sai, hạ hồi phân giải”*** [tưởng cũng nên nhắc thêm rằng, trên tivi đang chiếu cuốn phim “Bí thư tỉnh ủy“, có thể tìm thấy những hình ảnh thật sinh động cho chuyện này. Còn nếu muốn làm “con cháu của Mác” thì cũng xin dẫn ra nguyên văn ý của Mác: “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ chp phát triển vẫn chưa phát triển”!]

Bài học của giáo điều, bảo thủ và đổi mới, sáng tạo thật là thấm thía. Nói chữ nghĩa to tát thì thế, nhưng thật ra, chân lý thật giản đơn, vì đó là cuộc sống. Biết bám vào cuộc sống của dân, dám nghe dân, hiểu được ý chí và nguyện vọng của dân thì mọi giáo điều sẽ như sương mù tan biến dưới ánh mặt trời!

Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ vào thời điểm nhạy cảm này chính là thực hiện lời căn dặn của Bác “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước thềm Đại hội, thiết thực nhất là làm theo đòi hỏi của Bác: đừng “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà làm kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo... làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công nhưng về mặt chính trị là thất bại”. **

Về nguyên tắc thì dân không được dự Đại hội Đảng, dân cũng không được bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là bầu Tổng Bí thư! Ở đây là một thực tế lịch sử, dân ta sẵn sàng chấp nhận thực tế lịch sử đó khi Đảng thực sự là Đảng của dân, biết “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.**

Vậy là nguyên tắc thì như vậy, đồng thời về nguyên lý thì vừa qua, những Văn kiện sẽ đưa ra trình Đại hội XI thảo luận đã ít nhiều có sự đóng góp của dân, trong đó có sự đóng góp của nhiều đảng viên là cán bộ lão thành cách mạng, những người đã có trải nghiệm thành công và thất bại của Đảng, có đóng góp của những cựu chiến binh, những người đã từng cống hiến cuộc đời và một phần xương máu của mình cho sự nghiệp của dân tộc, có đóng góp trí tuệ và tâm huyết của nhiều trí thức chân chính, đã từng đúc kết những bài học của nước mình và của thế giới để đưa ra những kiến nghị có cơ sở khoa học và thực tiễn. Để chứng tỏ Đảng là Đảng của dân, Đảng biết trân trọng những đóng góp của dân, thì cần công khai toàn bộ những ý kiến đóng góp đó, ghi rõ những ý kiến nào Đại hội tiếp thu, đưa ra thảo luận để chuyển thành Nghị quyết, những ý kiến nào cần nghiên cứu để chỉ rõ đúng sai để trả lời thật minh bạch.

Một điều thiết thực và bức xúc nữa của dân, và cũng là của đông đảo đảng viên không phải là đại biểu Đại hội, nhưng thông qua đại biểu của mình, mong mỏi Đại hội đổi mới cách làm việc, đặc biệt là cách bầu BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là bầu Tổng Bí thư. Làm sao để Đại hội thực sự là cơ quan cao nhất của Đảng như Điều lệ Đảng đã quy định, nơi trực tiếp quyết định những vấn đề có ý nghĩa sống còn của Đảng, trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của dân.

Muốn thế, Đại hội phải thể hiện rõ tính chiến đấu và sự trung thực của người cộng sản, không tránh né những vấn đề có tính nguyên tắc, công khai và minh bạch trong tranh luận chứ không dễ dàng xuôi theo những vấn đề đã được chuẩn bị và sắp đặt sẵn. Đành rằng, bất cứ với cách thức nào thì sự chuẩn bị của Ban Tổ chức Đại hội là điều phải có. Song quyền quyết định phải là Đại hội, là sự tranh luận và biểu quyết của tất cả các đại biểu.

Hơn lúc nào hết, trước thềm của Đại hội XI, khí phách của dân tộc cần được khởi động. Những âm vang của lịch sử như giục giã mỗi chúng ta. Từ “Cương lĩnh dựng nước” của Khúc Hạo thế kỷ thứ X “Chính sự cốt chuộng sự khoan dung, giản dị để cho trăm họ được yên vui” đến bản lĩnh của Trần Hưng Đạo thế kỷ XIII “Bệ hạ muốn hàng xin trước hãy chém đầu tôi đã”, đến khí phách của người cộng sản Hoàng Văn Thụ thế kỷ XX trước giờ lên máy chém “Việc nước xưa nay có bại thành. Miễn sao giữ trọn được thanh danh”.

Người đảng viên của Đảng, những người gánh vác trọng trách của Đảng và cũng là của dân, trước hết phải là người yêu nước nhất, là người tỏ rõ khí phách trước kẻ thù, là người có bản lĩnh dám đương đầu trước mọi khó khăn, dám ở nơi đầu sóng ngọn gió để cùng dân tộc đi tới trong một thế giới đầy thử thách và đầy biến động khó lường của thế kỷ XXI. Đó chính là khát vọng của dân vào thời điểm nhạy cảm trước thềm Đại Hội XI của Đảng!

---

* C.Mác và PH.Ăng-ghen Toàn tập. Tập 21. HàNôi 1995, tr. 393.
** Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 5. NXBCTQG, Hà Nội 1995. tr.295. tr.293, tr.297
*** Thái Duy. Đổi Mới ở Việt Nam. Nhớ lại và Suy Ngẫm. Chủ biên:Đào Xuân Sâm & Vũ Quốc Tuấn.
 NXB Tri thức. 2008. tr.301

7 thg 1, 2011

PN&HĐ: Tết quan bị làm khó và chuyện phóng sinh điều ác

Khánh Linh
 
Tết này "quan" bị làm khó vì chủ trương không nhận quà biếu, không biếu quà ai. Người Việt mình lần thứ hai đứng ngôi quán quân lạc quan của thế giới. Hà Nội cuối cùng cũng chốt được giải pháp để cứu cụ Rùa. Ba lát cắt tuần này, nhìn từ một phía là những tín hiệu đáng lạc quan không kém, nhưng nhìn từ phía khác, lại quá nhiều điều đáng bàn.

Bí thư Hà Nội làm khó cấp dưới?

Đúng một tháng trước Tết, Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã có lời với lãnh đạo các quận, huyện, xã phường cũng như các sở, ban ngành... thực hiện nghiêm chủ trương không biếu quà cấp trên bằng một câu nói thật sự ấn tượng "Tất cả chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo hết, vì thế đừng ai đi biếu quà cho người khác và cũng đừng để ai đến biếu quà cho mình".
Đây là lời phát biểu chính thống tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2011 của TP Hà Nội, nên có thể hiểu là một mệnh lệnh của cấp trên với tất cả cấp dưới, nghĩa là tất cả cấp dưới sẽ phải nghiêm túc thực hiện, chứ không lẽ "trên bảo dưới lại không nghe"? Hơn nữa, ông Phạm Quang Nghị không chỉ là Bí thư Hà Nội, ông còn là một trong số mười mấy ủy viên Bộ Chính trị, nên lời nhắc nhở của ông càng có sức nặng hơn. Cũng cần phải hiểu rộng hơn, đây là sự tái khẳng định chủ trương nhất quán của Chính phủ từ nhiều năm qua.
Bởi đây không phải lần đầu tiên một lãnh đạo cấp cao công khai yêu cầu không biếu xén và không nhận quà Tết. Thử tìm lại ngẫu nhiên trên báo chí, sẽ thấy ít nhất từ đầu năm 2009, cũng chính Bí thư Hà Nội khi đi thăm hỏi, chúc Tết các hộ nghèo, gia đình chính sách, cũng đã yêu cầu lãnh đạo các quận, huyện, sở, ngành, không được tặng quà Tết cho lãnh đạo TP, mà nên dành thời gian thăm hỏi, tặng quà Tết cho các khu dân cư, gia đình nghèo, khó khăn và các gia đình chính sách.

Xa hơn nữa, từ đầu năm 2007, Thủ tướng đã ký ban hành chỉ thị về việc tổ chức đón Tết Nguyên đán Đinh Hợi, trong đó yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư không tổ chức đi chúc Tết, tặng hoa lãnh đạo các cấp.
Cái chuyện quà Tết, dù chẳng nói ra nhưng lâu nay xã hội đã ngầm hiểu với nhau, Tết là dịp để "cảm ơn, chạy chọt, xin xỏ"...Một phong tục tốt đẹp của dân tộc từ lâu rồi đã bị con cháu lợi dụng để mưu cầu tư lợi. Thế mới có cảnh, cứ gần Tết là dân thường được phen trố mắt thấy xe con nườm nượp ra vào nhà một sếp này, sếp nọ. Cách đây mấy năm, dư luận được phen ngã ngửa khi ông Chủ tịch tỉnh Cao Bằng đem sung công hơn 1 tỷ đồng quà Tết để làm từ thiện...Rồi ông phó Chủ tịch một thành phố lớn nọ, công khai quà biếu Tết đâu như 4 tỷ đồng. Những con số khổng lồ so với vật giá thời ấy. Mà đấy là những đồng chí dám công khai, còn các "anh hùng núp" thì chắc là không biết đằng nào mà lần.

Bởi vậy, chủ trương quyết liệt của Chính phủ và phát biểu mới đây của Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị, trước hết là dân cứ hoan nghênh, đồng tình ủng hộ.  Mừng, nhưng rồi lại lấy làm lạ: Vì sao Chính phủ đã có chỉ thị từ 4 năm trước, mà lãnh đạo Hà Nội vẫn cứ phải nhắc đi nhắc lại yêu cầu này? Hay bởi chỉ thị của Chính phủ chỉ có "hiệu lực" đến lãnh đạo tỉnh, thành phố thôi, chứ không vươn dài xuống cấp dưới? Cũng có thể suy đoán tới khả năng, hoặc một số lãnh đạo các cấp không làm theo chỉ thị của Chính phủ, hoặc Bí thư Hà Nội cẩn thận nên nhắc trước, tránh tình trạng "phép vua thua lệ làng".

Bởi mới đầu năm ngoái, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc lại khẳng định Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, chứ không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục. Nhưng thế nào là tặng quà theo truyền thống và phong tục thì rất tiếc, Bộ trưởng Phúc lại không nói rõ "giới hạn". Và làm sao để giám sát chuyện quà tặng có theo truyền thống và phong tục không? May ra xã hội chỉ có thể quan sát được chuyện lãnh đạo nào có nhiều người đến biếu quà cáp hay không, chứ chịu chết không thể biết nội dung từng món quà ấy ra sao để đưa ra kết luận đúng truyền thống hay sai truyền thống, tích cực hay tiêu cực.
Phải chăng chính vì cái ranh giới quá khó phân định ấy mà người đứng đầu thành phố Hà Nội phải đưa ra yêu cầu nghiêm khắc hơn cho thủ đô, để làm gương cho cả nước? Chính phủ không hạn chế việc tặng quà theo truyền thống và phong tục, nhưng Hà Nội thì hạn chế hết. Không chỉ hạn chế việc tặng quà, mà còn hạn chế cả việc nhận quà. Bởi trong trường hợp chẳng may có một lãnh đạo cấp nào đó không "tuân lệnh" Bí thư, nhất định đến biếu quà Tết lãnh đạo cấp trên, thì lãnh đạo cấp trên cũng sẽ không nhận quà đâu. Bí thư chẳng đã dặn rất kỹ, mình không chỉ không đi biếu quà, mà cũng không được nhận quà đó là gì.

Có điều, mệnh lệnh xuất phát từ trái tim Bí thư Phạm Quang Nghị xem ra hơi khó thực hiện, nói chính xác hơn là có vẻ "làm khó" cấp dưới. Nhưng cái khó ló cái khôn, dân ta vốn giàu sáng tạo nên có thể chọn cách ứng xử vẹn cả đôi đường như sau: "không biếu quà Tết Bí thư Phạm Quang Nghị" đúng như lời Bí thư đã chỉ đạo, còn lại thì thực hiện theo ý của Bộ trưởng "không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục". Đố ai bắt bẻ vào đâu được nhé.
Chỉ có chút băn khoăn xin được gửi đến Bí thư, nếu có gì không phải thì xin Bí thư bỏ qua. Lời nhắc nhở của Bí thư chỉ có hiệu lực với lãnh đạo các quận, huyện, xã, phường, sở ban ngành,... nói như lời của chính ông là "Tất cả chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo hết,...". Còn với các đối tượng khác thì sao? Chẳng hạn với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố? Xin Bí thư nói rõ hơn, để nếu như Tết này người dân có thấy ai đó đến biếu quà Tết cho lãnh đạo các cấp của Hà Nội, thì có thể biết phải "loại trừ" những đối tượng nào? còn nếu lời nhắc nhở ấy có hiệu lực với mọi đối tượng, thì cũng xin Bí thư nói rõ, để toàn dân Hà Nội được tỏ tường. Bởi nếu người đứng đầu của thành phố đã không nhận quà Tết từ bất cứ "cấp dưới" theo nghĩa nào, thì các cấp dưới đó cũng sẽ theo gương Bí thư, không yêu cầu các cấp dưới hơn phải tặng quà cho mình. Nghĩa là Tết này, toàn dân Hà Nội sẽ được thanh thản, không ai phải lo đi biếu quà cấp trên, dù chỉ là quà theo truyền thống.

Người Việt lạc quan nhất thế giới?

Người Việt Nam tiếp tục lạc quan nhất thế giới, theo kết quả cuộc thăm dò mang tên "Tiếng nói của người dân" do Viện thăm dò BVA của Pháp và Viện Gallup của Mỹ thực hiện cuối năm 2010 tại 53 quốc gia, với 64.203 người được hỏi về triển vọng kinh tế nước mình trong năm 2011. Tại Việt Nam, có tới hơn 70% trong số 1000 được hỏi trực tiếp tự tin về triển vọng kinh tế năm 2011, bỏ xa nhóm nước thứ hai với Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ, nơi "chỉ" 49% người dân lạc quan về sự phát triển kinh tế, trong khi tỷ lệ trung bình của cả 53 quốc gia là 30%.
Đây không phải lần đầu tiên người Việt Nam là "quán quân" lạc quan của thế giới. Đầu năm 2007, báo chí cũng đã từng đưa tin Việt Nam dẫn đầu trong 53 quốc gia được khảo sát về mức độ tin tưởng vào tương lai tươi sáng, theo đó 94% người Việt nam được hỏi tin tưởng năm 2007 sẽ khá hơn năm 2006, vượt xa nước đứng thứ hai, ba là Hồng Kông (với 74%) và Trung Quốc (73%), còn tỷ lệ trung bình của 49.000 người ở cả 53 quốc gia là 43%.
Nếu so với mức lạc quan trung bình của thế giới thì ở cả hai cuộc khảo sát, Việt Nam quả thật rất nên "chia sẻ" sự lạc quan cho bạn bè thế giới. Nhất là chia sẻ với những người dân tại các quốc gia phát triển của châu Âu và Bắc Mỹ đang rất bi quan về tương lai. 61% người dân Pháp khi được hỏi đã cho rằng năm 2011 sẽ là một năm phát triển kinh tế khó khăn, trong khi con số đó của Anh là 52%, Tây Ba Nha 48% và Italia 41%. Thậm chí chỉ 25% người tham gia khảo sát ở Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ) cho rằng kinh tế năm 2011 sẽ có tiến bộ.
Cảm giác đầu tiên khi đọc kết quả khảo sát là thấy... vui vui, vui vì hóa ra người Việt mình mấy năm nay vẫn tràn đầy lạc quan vào tương lai, tin tưởng rằng năm sau tốt hơn năm trước. Hình như lạc quan vốn là một "tính tốt" của người Việt. Bởi cứ lâu lâu lại đọc trên báo chí một kết quả khảo sát chứng tỏ người mình rất lạc quan, lúc thì 35 năm sau chiến tranh: Người Việt Nam lạc quan về tương lai (kết luận sau một cuộc thăm dò của hãng thông tấn AP), rồi Người tiêu dùng Việt Nam lạc quan nhất thế giới (theo kết quả cuộc khảo sát Niềm tin người tiêu dùng toàn cầu của Công ty The Nielsen).

Nhưng sau thoáng vui ban đầu là sự băn khoăn, liệu sự lạc quan đó có thật sự đem lại điều tốt lành? Khi nằm chung nhóm những nước lạc quan với chúng ta lại có những quốc gia rất "bất ổn" như Nigeria hay Afghanistan. Ngay khi công bố kết quả cuộc khảo sát, báo Le Parisien của Pháp đã đưa ra nhận xét "Bất chấp đảo chính, tham nhũng và đói nghèo thì người dân Nigeria vẫn tin tưởng về tương lai tươi sáng của đất nước họ". Phải chăng người dân Nigeria lạc quan vào tương lai, bởi sự lạc quan là liều thuốc duy nhất giúp họ vượt qua được những "bi quan" của hiện tại?
Đành rằng các nước châu Âu "bi quan" đang gặp khó khăn nên người dân có phần mất niềm tin vào tương lai, nhưng phải chăng chính sự bi quan đó đồng nghĩa với sự không bằng lòng với thực tại sẽ cho họ động lực để giải quyết khó khăn hiện tại. Còn chúng ta liệu có "ngủ quên" trên sự lạc quan tươi sáng, và liệu lạc quan có đồng nghĩa với dễ bằng lòng, thiếu nỗ lực?
Vậy thì, không nên chỉ đơn giản thấy vui với kết quả người Việt lạc quan nhất. Lạc quan chỉ tốt, nếu đi cùng với nó là sự không bằng lòng với chính mình, không chấp nhận Việt Nam mãi "đi sau". Nếu thái độ sống lạc quan song hành với nỗ lực vươn lên thì xin chúc mừng những người Việt lạc quan, và xin được theo gương họ. Bằng không, thà cứ là người... bi quan!

Phóng sinh điều ác dữ?

Một thông tin "lạc quan" của tuần qua là việc UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt các giải pháp tiêu diệt rùa tai đỏ bằng lồng hoặc bè nổi và lưới mà Sở Khoa học - Công nghệ đã đề xuất đúng "hạn" 31/12/2010. Không phải chỉ đến những ngày cuối năm, các nhà khoa học mới thật sự lo âu về số phận của cụ Rùa Hồ Gươm khi rùa tai đỏ, loài vật đứng đầu trong 100 loài xâm hại nguy hiểm nhất thế giới, đã tràn ngập không gian sống của cụ.
Nhưng ai đủ hiểu biết để lo thì cứ lo, nhưng cứ gần đến rằm tháng 7, thị trường mua - bán rùa tai đỏ vẫn tấp nập phục vụ việc phóng sinh, thậm chí giá cả còn bị đẩy lên cao mà "có hôm vẫn không có rùa tai đỏ để bán" nhưng lời thừa nhận của chủ một cửa hàng cá cảnh trên đường Hoàng Hoa Thám với phóng viên Bee.net.vn. Có thể "thông cảm" với những người hồn nhiên mua bán rùa tai đỏ, rằng có thể người mua không biết rùa tai đỏ tai hại ra sao, hoặc biết rùa tai đỏ tai hại nhưng cứ giả vờ rằng đó là con rùa nào đó thôi, chứ không lẽ tai hại thế mà vẫn mua về để...phóng sinh cầu phúc? Còn người bán thì cũng giả vờ nghĩ rằng, mình bán thì cứ bán thôi, có cầu thì có cung, người mua phải tự biết rùa tai đỏ tai hại chứ, đúng như lập luận của một chủ cửa hàng rằng "Nói là rùa này có hại, nhưng đâu ai cấm mình bán. Có cầu thì ắt có cung. Cửa hàng mình không bán, thì người ta cũng mua được ở hàng khác...".

Người mua phó thác cho người bán, người bán chỉ lo chiều lòng người mua, chẳng ai thấy mình có lỗi, trách gì rùa tai đỏ được dịp tràn lan khắp Việt Nam, chẳng mấy ai cảm thấy áy náy. Mà áy náy sao được, khi việc phóng sinh rõ ràng mang ý nghĩa tốt lành, phóng sinh rùa - loài vật quý hiếm - thì chỉ càng tốt lành hơn thôi. Nên mới có chuyện cứ mỗi dịp người dân tận tình phóng sinh thì lại ngổn ngang cảnh chim bị thương, cá chết nổi lềnh bềnh mặt hồ. Rồi còn thêm một bộ phận những người tức thời nhanh chóng bắt chim, bắt cá vừa được thả để bán lại cho người mới nữa chứ. Chẳng biết sự tốt lành có theo những người phóng sinh về không, chỉ thấy thương cho những sinh vật vô tội bị hành hạ, và giận những người vô tâm đã phát tán rùa tai đỏ như phát tán một sinh vật "thiêng".
Sự lo âu chỉ đạt ngưỡng mới khi ngày 18/12, nhiều du khách dạo chơi ven hồ Gươm tận mắt chứng kiến cảnh cụ Rùa thiêng cõng rùa tai đỏ trên lưng trong suốt thời gian 2 giờ đồng hồ nổi lên mặt nước.

Rùa tai đỏ
Để rồi đến ngày 30/12, người dân quá đau lòng khi thấy cụ Rùa lại nổi lên với những vết thương mới, được các nhà khoa học cảnh báo là dấu hiệu rùa tai đỏ tấn công cụ rùa. PGS.TS Hà Đình Đức, trước đây chỉ lo ngại chuyện rùa tai đỏ phá hoại môi trường hồ Gươm và ăn hết thức ăn của cụ Rùa... trong 50, 70 năm nữa, thì nay đã phải đưa ra giả thiết rất cấp thiết là rùa tai đỏ đã tấn công và gặm mai cụ Rùa.

Thôi thì đành an ủi, phải đến lúc cụ Rùa gặp nguy hại thì các cơ quan chức năng mới xắn tay vào cuộc. 28/12 Hà Nội có văn bản yêu cầu Sở Khoa học - công nghệ chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND quận Hoàn Kiếm tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học, kiểm tra và đề xuất biện pháp xử lý.
4 ngày sẽ là quá ngắn nếu Sở KH - CN phải tự mình tìm ra biện pháp, nhưng bởi các nhà khoa học đã công khai lên tiếng rải rác trên các phương tiện thông tin đại chúng về những biện pháp khả thi, không quá phức tạp để tiêu diệt rùa tai đỏ, nên Sở KH - CN đã nộp báo cáo đúng hạn, và Hà Nội cũng không chần chừ phê duyệt các giải pháp.

Việc phải làm trước mắt đã quá rõ ràng, với yêu cầu các thiết bị lồng, bè, lưới cũng như loại mồi để dụ rùa tai đỏ phải không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của hồ, không gây hại cho cụ Rùa quý, và tất nhiên trước mắt phải thử nghiệm tại một hồ khác để rút kinh nghiệm.
Nhưng nếu chỉ lo bắt rùa tai đỏ dưới hồ Gươm mà không ngăn chặn việc tiếp tục thả rùa thì chính quyền cũng mãi là người "đi sau" để giải quyết hậu quả, chắc chắn sẽ đến lúc... mệt mỏi. Tác hại của rùa tai đỏ đã quá rõ ràng, việc khẩn thiếp không kém là phải ngăn chặn người dân tiếp tục thả rùa tai đỏ xuống hồ Gươm nói riêng, và việc phóng sinh rùa tai đỏ nói chung. Phòng bệnh bao giờ chẳng hơn chữa bệnh

Bơm tiền chưa hẳn là giải pháp để hạ lãi suất và ổn định kinh tế

Một bài viết hay đáng để đọc

Hồ Bá Tình, Phòng Nghiên cứu Vietstock
(Vietstock) – Gần đây, có một vài ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên mua lại trái phiếu Chính phủ để cung tiền ra thị trường nhằm hạ lãi suất. Chúng tôi cho rằng nên thực hiện chính sách này một cách cẩn trọng bởi có thể thổi bùng lên một đợt lạm phát mới. 

Giải pháp căn cơ là phải nâng cao hiệu quả đầu tư mới có thể chữa được “căn bệnh” lạm phát và lãi suất cao của Việt Nam. Ngoài ra, việc xây dựng một quy trình chuẩn trong ban hành chính sách điều hành nền kinh tế và thị trường tiền tệ là điều rất cần thiết.

Mô hình IS-LM vẫn giải thích được cho biến động vĩ mô của Việt Nam
Mô hình IS-LM (Investment/Saving - Liquidity preference/Money supply) là một mô hình kinh điển trong kinh tế học dùng để biểu diễn mối quan hệ giữa lãi suất, tiết kiệm, đầu tư, cung tiền, tăng trưởng kinh tế và một vài biến số khác của nền kinh tế.
Mô hình IS-LM có thể giúp giải thích phần nào những biến động trong nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua.
Cụ thể, Chính phủ tung ra gói kích thích kinh tế khoảng 8 tỷ USD trong năm 2009. Điều này khiến nhu cầu đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế tăng lên, góp phần làm GDP năm 2009 tăng trưởng 5.3%.
Tuy vậy, một hệ quả đi cùng là giá cả hàng hóa cũng tăng lên (do cầu hàng hóa tăng), dẫn đến tăng cầu tiền trong nền kinh tế. Cầu tiền tăng đã làm cho lãi suất vào cuối năm 2009 và năm 2010 tăng mạnh.
Chính sách NHNN đang áp dụng hiện nay là giảm cung tiền để giảm đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế, từ đó ngăn chặn đà tăng giá của hàng hóa. Tuy nhiên, điều này lại càng làm cho lãi suất gia tăng.

Nguyên nhân thực sự của lãi suất cao ở Việt Nam

Như vậy, mô hình IS-LM vẫn có thể giải thích được cho hiện tượng lạm phát và lãi suất của Việt Nam. Tuy nhiên, cách giải thích theo mô hình này có tính chất nguyên lý. Bản chất của hiện tượng lãi suất cao của Việt Nam được giải thích một cách cụ thể như sau.
Cũng như bất kỳ một hàng hóa nào khác, lãi suất trên thị trường được hình thành theo quy luật cung cầu tiền trong nền kinh tế. Ngân hàng Trung ương (NHTW) là nơi điều tiết cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ. NHTW có thể bơm tiền qua các công cụ như thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua bán giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ, trực tiếp cho ngân hàng thương mại hay chính phủ vay mượn.
Cung cầu tiền trong nền kinh tế còn phụ thuộc vào tâm lý, kỳ vọng của người dân và doanh nghiệp. Nếu cầu đầu tư tăng lên thì sẽ làm tăng cầu tiền trong nền kinh tế, hoặc nếu tâm lý kỳ vọng về lạm phát sẽ cao, người dân và doanh nghiệp sẽ đòi hỏi một mức lãi suất cao hơn. Những điều này cũng dẫn đến việc lãi suất gia tăng.
Sử dụng các nguyên lý này, chúng ta thấy lãi suất tăng mạnh trong thời gian qua có một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do cầu đầu tư cao: Đây là nguyên nhân căn bản khiến lãi suất của Việt Nam luôn vượt trội so với các nền kinh tế khác. Tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế trong 3 năm gần đây luôn trên 40% GDP, tính trung bình trong 10 năm cũng đã lên tới 38% GDP. Đây là mức rất cao so với hầu hết các nền kinh tế khác.
Điều này cũng giải thích cho tăng trưởng tín dụng và cung tiền của Việt Nam luôn ở mức rất cao so với các nền kinh tế khác. Năm 2009, tăng trưởng tín dụng là 37%, và tỷ lệ này trong năm 2010 theo ước tính của chúng tôi đạt khoảng 27%.
Thứ hai là lạm phát cao vượt dự kiến: Lạm phát trong những tháng cuối năm tăng lên rất mạnh khiến cả năm 2010 lên đến 11.75%, cao gần như vượt mọi dự đoán trước đó. Thực tế lạm phát cao này đã khiến người dân và doanh nghiệp không ưa thích cất giữ tiền mặt, mà thay vào đó đầu tư các tài sản có tính thanh khoản tốt và thường tăng theo lạm phát như USD và vàng.
Vì vậy, các ngân hàng không những khó huy động vốn mà tiền tiết kiệm còn bị rút ra để đầu tư vào các tài sản có tính an toàn cao hơn. Nếu gửi tiền vào ngân hàng, người gửi tiền cũng sẽ đòi hỏi một mức lãi suất cao hơn.
Thứ ba là chính sách tiền tệ thắt chặt: Ngày 5/11, NHNN quyết định điều chỉnh các lãi suất thêm 1%, cụ thể lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn lên 9%, lãi suất tái chiết khấu lên 7%. Động thái này cho thấy NHNN đang sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát. Trong thời gian qua, NHNN cũng đã hạn chế cung tiền qua thị trường mở.
Thứ tư là sức ép từ Thông tư 13: Theo Thông tư 13 và Thông tư 19 (sửa đổi một số điều của Thông tư 13), hệ số CAR yêu cầu được nâng từ 8% lên 9% và số tiền cho vay không quá 80% vốn huy động đối với ngân hàng và 85% đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Ngoài ra, theo Thông tư 19 thì chỉ có 25% tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức được tính vào số vốn huy động.
Có thể nhận thấy những quy định mới này đã ảnh hưởng rất mạnh đến khả năng cấp tín dụng và chi phí vốn của các ngân hàng thương mại. Điều này đồng nghĩa với việc lãi suất thị trường tăng mạnh là không thể tránh khỏi.
Vòng luẩn quẩn lạm phát – lãi suất
Có thể thấy lạm phát cao sẽ dẫn đến lãi suất cao, tuy nhiên đến lượt lãi suất cao lại tác động trở lại lạm phát.
Lãi suất tăng cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn của doanh nghiệp và dẫn đến giá thành sản phẩm tăng. Ngoài ra, lãi suất cao cũng buộc một số doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất làm giảm cung hàng hóa trên thị trường dẫn đến tăng giá.
Tuy nhiên, cần lưu ý giá cả hình thành theo quy luật cung cầu. Lãi suất tăng sẽ làm cho cầu đầu tư và tiêu dùng giảm, dẫn đến giá hàng hóa không thể tăng mạnh như việc tăng lên của chi phí.
Như vây, hiệu ứng từ lãi suất cao về phương diện lý thuyết không làm giá cả tăng mạnh một cách tương ứng. Ngoài ra, lạm phát chi phí đẩy cũng không làm cho giá tăng cao một cách liên tục như những gì đang xảy ra tại Việt Nam. 

Trường hợp lạm phát đình đốn (nền kinh tế vừa lạm phát cao, đồng thời kinh tế suy giảm) như nhiều nhận định lo ngại có xác suất xảy ra không cao trên thực tế.
Quan hệ giữa cung tiền và lạm phát được chứng minh một cách rất thuyết phục cả về lý thuyết và thực tế. Mối quan hệ này có thể hiểu một cách đơn giản là khi cung tiền tăng lên quá nhanh vượt mức tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ được làm ra thì điều tất yếu sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa phải tăng (nhiều tiền, ít hàng).
Về bản chất lạm phát cao, kéo dài của Việt Nam, một số phân tích trước đây của chúng tôi đã chứng minh là do tính cơ cấu.
Nguyên nhân chính yếu là do tỷ lệ đầu tư quá cao đòi hỏi tăng trưởng cung tiền cao nhưng không tạo ra hiệu quả tương ứng. Điều này dẫn đến sản phẩm và dịch vụ làm ra tăng thấp hơn nhiều so với cung tiền của nền kinh tế.
Như vậy, nguyên nhân lạm phát cao của Việt Nam vẫn chủ yếu là do cung tiền chứ không phải là do chi phí đẩy.

Giải pháp cho vấn đề hạ lãi suất hiện nay

Để giảm mạnh lãi suất, NHNN cần phải cân nhắc nhiều biến số trong nền kinh tế, đặc biệt là lạm phát.
Trước hết cần phải xác định mức lãi suất hiện nay đã thực sự cao hay thấp và mục tiêu lãi suất sẽ là bao nhiêu. Từ đó, NHNN mới có thể đưa ra một chính sách thật sự hợp lý để giải quyết những bất ổn hiện nay trên thị trường tiền tệ.
Chúng tôi cho rằng mức lãi suất cho vay phổ biến từ 18-20% là quá cao và quá khả năng của phần lớn doanh nghiệp. Mức lãi suất này gần bằng giai đoạn giữa năm 2008, trong khi thời điểm đó lạm phát tính theo năm (year-on-year) lên tới 30%.
Thống kê gần 600 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán từ năm 2006 đến nay cho thấy lợi nhuận trên vốn đầu tư trung bình chỉ từ 18-24%. Do vậy, mức lãi suất hiện nay sẽ gây khó khăn cho rất nhiều doanh nghiệp.
Một tiêu chí khác cho thấy với mức lạm phát kỳ vọng năm 2011 dưới 10%, thì mức lãi suất huy động 16-19% được xem là quá cao, dù cho kinh tế Việt Nam còn nhiều rủi ro.
Việc các ngân hàng đồng thuận đưa lãi suất huy động tối đa là 14% được xem là mức hợp lý. Tuy nhiên, NHNN vẫn cần có những biện pháp mang tính dài hạn hơn để lãi suất huy động thực tế của các ngân hàng giảm xuống dưới mức này mà không cần một sự “đồng thuận” nào.

Xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư 13: Những quy định tại Thông tư 13 nhằm mục đích nâng cao sự an toàn cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các biện pháp được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn tác động mạnh đến thị trường tài chính. Chi phí vốn tăng và tín dụng khan hiếm từ các quy định này đã góp phần đẩy lãi suất lên cao.
Hơn nữa, kinh nghiệm nhiều quốc gia cho thấy sự an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc nhiều vào các giải pháp quản trị, hơn là việc nâng các quy định an toàn một cách quá nhanh.
NHNN cần cẩn trọng trong việc mua các tài sản tài chính trên thị trường: Cách nhanh nhất để NHNN cung tiền ra thị trường để hạ lãi suất là mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp và thứ cấp. Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát cao ở Việt Nam thì đây là một chính sách mạo hiểm. Điều này có thể làm lạm phát tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới, vì lạm phát ở Việt Nam chủ yếu là do cung tiền.
Việt Nam không thể tung ra một gói nới lỏng định lượng tương tự như Hoa Kỳ vì có sự khác biệt rất lớn về điều kiện kinh tế. Lạm phát ở Việt Nam rất cao, tiêu dùng và đầu tư cũng tăng nhanh. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại có mức lạm phát thấp, tín dụng tiêu dùng và đầu tư suy giảm.
Ngoài ra, việc NHNN bơm tiền vào nền kinh tế qua việc mua trái phiếu sẽ khiến cho việc kiểm soát cung tiền gặp khó khăn hơn nhiều so với sử dụng các công cụ trên thị trường mở. Thực tế chứng minh trong các năm vừa qua, NHNN mua trực tiếp trái phiếu Chính phủ đã gây sức ép mạnh lên lạm phát và thâm hụt ngân sách.
Trong bối cảnh hiện nay, NHNN có thể dùng thị trường mở như là một cổ máy bơm hút tiền để giải quyết vấn đề thanh khoản và hạ lãi suất về vùng mục tiêu.
Những bất cập trên thị trường này như tình trạng “độc quyền” của một số ngân hàng được chiết khấu giấy tờ có giá trên thị trường mở không phải là nguyên nhân gây nên lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng.

Chính sách nhất quán, minh bạch, thực tế: Nguyên nhân quan trọng khiến cho kinh tế Việt Nam bị cuốn vào vòng xoáy lãi suất và lạm phát trong thời gian qua một phần là do lòng tin bị suy giảm. Một khi người dân chưa tin vào những chính sách Chính phủ và sự ổn định của các yếu tố vĩ mô thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Chẳng hạn, hoạt động đầu cơ vàng, ngoại tệ sẽ tăng lên và tiền sẽ không đổ vào lĩnh vực sản xuất, đổi mới công nghệ, cải thiện năng suất.
Lòng tin của nhà đầu tư và người dân chỉ có thể được hình thành từ các chính sách minh bạch, nhất quán và có tính thực tiễn. Một điều quan trọng nữa là các chính sách vĩ mô phải trở nên “dự đoán được”. Những đối tượng bị ảnh hưởng phải biết được các giải pháp cụ thể của Chính phủ đối với các bất ổn vĩ mô như tỷ giá, lạm phát, lãi suất, thâm hụt ngân sách. Việc không thể đoán trước được có thể gây nên tâm lý hoài nghi và tạo nên những điểm tắc nghẽn trong nền kinh tế.
Do vậy, về lâu dài để hạ lãi suất và ổn định nền kinh tế thì việc xây dựng một quy trình ban hành chính sách điều hành nền kinh tế và thị trường tiền tệ là điều rất cần thiết.

Nâng cao hiệu quả đầu tư, giảm thâm hụt ngân sách: Nguồn gốc sâu xa của tình trạng lãi suất cao và lạm phát ở Việt Nam là do hiệu quả đầu tư thấp và tình trạng thâm hụt ngân sách khá cao. Do vậy, về dài hạn muốn giải quyết được những bất ổn này thì cần phải giải quyết từ gốc.
Việc tái cấu trúc nền kinh tế phải được thực hiện mạnh mẽ hơn nữa, chú trọng đến việc giảm đầu tư của khu vực nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực này. Ngoài ra, cần từng bước giảm thâm hụt ngân sách để giữ vững sự ổn định cho hệ thống tài chính.

Dần dần từng bước giảm tỷ lệ đầu tư/GDP về quanh mức 30-35% thay vì trên 40% như hiện nay. Bên cạnh đó, cần đặt mục tiêu giảm tăng trưởng tín dụng và cung tiền hàng năm về quanh mức 20% và hệ số ICOR khoảng 4 lần.
Chỉ có nâng cao hiệu quả đầu tư mới là liều thuốc hữu hiệu để chữa “căn bệnh” lạm phát và lãi suất cao của Việt Nam. 


 

Khi tham nhũng trở thành một thứ "văn hóa"

Bản gốc


Tuy luôn nói phải diệt tham nhũng nhưng chúng ta lại sẵn sàng hối lộ cho bất cứ ai mỗi khi ta cần. Khi đưa hoặc nhận hối lộ chẳng mấy người còn biết xấu hổ như ngày xưa.
Chuyện kể của một người bạn

Cuối năm ấy tôi sang Đan Mạch thăm con và tình cờ quen bác sĩ Chen, một nghiên cứu sinh Trung Quốc, bạn của con tôi. Chen rủ tôi tối tối đi tắm tại bể bơi nước nóng của khu phố, mở cửa miễn phí suốt năm cho tất cả mọi người, nhưng mỗi tuần anh nghỉ bơi 3 buổi vì phải đi học tiếng Đan Mạch.
Anh ngữ là ngôn ngữ chính thức thứ 2 của xứ này, Chen tất nhiên giỏi tiếng Anh rồi, cớ sao lại học thêm tiếng của một dân tộc chỉ có 5 triệu người? Anh tâm sự: Sang năm tôi sẽ đón vợ con sang đây định cư. Muốn vậy phải biết tiếng Đan Mạch. Xã hội nước này vô cùng dễ thở và đặc biệt là cực kỳ trong sạch, không có thói giả dối mà tôi căm ghét đến xương tủy. Đây là nơi đáng sống hết đời!
Tôi vô cùng sững sờ trước quyết định rời bỏ Tổ quốc dễ dàng như thế của Chen. Phải chăng tôi yêu nước mình hơn, đất nước tôi đáng yêu hơn, hay là xã hội của Chen ngột ngạt và không trong sạch? Chen nói có gì ghê gớm đâu, anh ta chỉ là một trong những đồng bào mình sẽ tiếp tục gia nhập đội quân 60 triệu người Hoa định cư ở ngoài nước thôi. Đội quân ấy có không ít người thành đạt, trở thành nghị sĩ, Thống đốc bang, Bộ trưởng, tương lai có thể làm Tổng thống Mỹ nữa kia. Một số người còn đoạt giải Nobel, trong khi hơn tỷ đồng bào Chen chưa ai nhận vinh dự ấy...
Trong sạch và tham nhũng
Sau ngày Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố Đan Mạch, New Zealand và Singapore là 3 quốc gia trong sạch nhất thế giới năm 2010, một chính khách Đan Mạch khi trả lời nhà báo có nói: Truyền thống lịch sử nước chúng tôi không có vấn đề tham nhũng, cho nên chúng tôi căn bản không cần phòng chống tham nhũng. Điều đó bắt rễ từ nền văn hoá Đan Mạch, nền văn hoá ấy không tin vào hối lộ, bóp nặn đục khoét và biển thủ; đời sống dân chủ, mọi người bình đẳng trước pháp luật, chế độ công khai tài sản cá nhân giúp xã hội chúng tôi luôn trong sạch...
Ai cũng biết tham nhũng sợ nhất dân chủ và luật pháp. Hai thứ đó hầu như là truyền thống của các dân tộc Bắc Âu nói riêng, phương Tây nói chung. Văn hóa cổ Hy Lạp đề xướng dân chủ; văn hoá Ý thời cổ tôn sùng luật pháp. Nước dân chủ coi chính quyền là bộ máy do dân bỏ tiền thuê để quản lý xã hội. Chính quyền có nhiệm vụ phục vụ dân, làm không tốt thì bị dân thay.
Châu Á từ xưa đã thiếu dân chủ và luật pháp. Do không có ý thức làm chủ bản thân và xã hội, người dân coi mọi quyền lợi mình được hưởng là do chính quyền ban cho, họ phải xin mới được. Lẽ đương nhiên kẻ đi xin phải biết ơn, kẻ ban phát thì tự cho mình có quyền hưởng sự cảm ơn. Vì thế xã hội hình thành "văn hoá" tham nhũng.
Chế độ phong kiến coi đạo Khổng là hệ tư tưởng nhưng lại hoàn toàn không thực hành "Nhân (thương người) trị" của Khổng Tử. Sự giả dối đó thể hiện ngay trong thời thịnh trị: Vua Đường giữ 3.000 cung nữ, thực chất là nô lệ tình dục chung thân, "Nhân" ở đâu? Vua quan giả dối thì xã hội không thể có văn hoá trong sạch.
Nhưng truyền thống hoặc văn hoá là thứ có thể tạo dựng, và dần thay đổi được. Với 77% dân người Hoa, Singapore ngày trước nạn tham nhũng rất nặng, nay là nước trong sạch số 1 trong số 178 nước được xét. Đó là do họ xây dựng được nền văn hoá trong sạch với cơ sở là dân chủ và thượng tôn pháp luật. Trung Quốc cũng toàn người Hoa, xếp hạng 79. Cuộc chiến chống tham nhũng ở đây rất gay go, có cả đổ máu.
Một số quan chức bị xử tử, cán bộ- kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc Hội, thứ trưởng Bộ Công an bị khởi tố, bỏ tù vì tham nhũng. Thủ tướng Ôn Gia Bảo mới đây nói tham nhũng là nguy cơ lớn nhất của đảng cầm quyền nước ông, có lẽ vì thế ông hăng hái nhất đòi hỏi thực hành cải cách dân chủ.
Như vậy, có thể thấy tham nhũng là một hiện tượng xã hội liên quan tới văn hoá, truyền thống. Văn hoá trong sạch thì tham nhũng không có đất phát triển. Thực hành dân chủ và thượng tôn pháp luật thì có thể hạn chế được tham nhũng. Ý thức hệ tư bản hay XHCN, kinh tế kế hoạch hay thị trường, nước giàu hay nghèo đều không quyết định vấn đề có tham nhũng hay không.
Khi tham nhũng trở thành "cách sống"
Tiếc thay, ở ta giờ đây đưa hối lộ dường như đã trở thành thói quen của người dân trong ứng xử với bộ máy công quyền; nhận hối lộ trở thành cách sống của không ít người ở vị trí công quyền, có khi chỉ là cơ quan hành chính. Hối lộ là cách để giải quyết nhanh gọn mọi việc cần xin xỏ hoặc việc trái pháp luật; là một luật lệ bất thành văn ai cũng biết là xấu, nhưng ai cũng chấp nhận như lẽ đương nhiên. Vì nếu không thì sẽ chẳng đạt được mục đích của mình.
Xin cho con học trái tuyến, vào trường điểm, trường chuyên; xin việc ở cơ quan xí nghiệp, đặc biệt những ngành béo bở mà không có tiền lót tay thì "hãy đợi đấy". Trò hối lộ thầy; em bé lớp 1 cũng biết vâng lời bố mẹ "phong bì" cho cô giáo. Người ốm vào bệnh viện, thậm chí cấp cứu cũng phải xì tiền ra thì mới được quan tâm. Khi phạm luật giao thông muốn được giảm tiền phạt và nhanh chóng giải quyết thì hãy dúi cho người phạt ít nhất một nửa số tiền lẽ ra phải nộp phạt cho nhà nước. Các loại bằng cấp, chứng chỉ, từ bằng lái xe tới bằng tốt nghiệp một cấp học nào đấy đều có thể mua được.
Nạn tham nhũng, trong thực tế cũng rất khó chống. Đó là do con người có bản tính tham. Nhà bác học Stephen Hawking nói mã di truyền của chúng ta có chứa các bản năng ích kỷ và xâm lấn (our genetic code "carries selfish and aggressive instincts"). Vì thế hễ có điều kiện là phần lớn người ta tự nhiên sinh lòng tham muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình, trước hết là tài sản công.
Anh tham, tôi tham, mọi người đều tham. Những kẻ phê phán tham nhũng như tôi hoặc bạn khi có chức quyền sẽ vẫn có thể tham nhũng. Người châu Á có tình cảm gia đình rất nặng, lo cho mình lại còn lo cho con cháu, họ hàng, do đó lại càng tham, sắp chết vẫn còn vơ vét.
Những đức tính quý giá của dân tộc như chất phác thật thà, đạo đức cần kiệm liêm chính mà Bác Hồ dạy và dầy công xây dựng đang có nguy cơ dần dần bị lùi bước trước thói xấu coi tiền bạc trên hết. Tuy luôn nói phải diệt tham nhũng nhưng chúng ta lại sẵn sàng hối lộ cho bất cứ ai mỗi khi ta cần. Khi đưa hoặc nhận hối lộ chẳng mấy người còn biết xấu hổ như ngày xưa.
Quốc hội ta từ lâu đã coi tham nhũng là quốc nạn. Nhiều vị lãnh đạo, nhất là các vị đã nghỉ hưu, từng lên tiếng mạnh mẽ phê phán tệ nạn này. Nhưng công cuộc phòng chống tham nhũng, xem ra còn lắm gian nan.
Tham nhũng gây thiệt hại lớn về tài sản quốc gia và tài sản riêng của dân. Có nước ước tính tham nhũng làm thất thoát vài phần trăm GDP. Người nghèo chịu thiệt nhiều nhất, vì không có tiền lót tay nên trong mọi dịch vụ họ đều không được phục vụ đúng yêu cầu, kể cả y tế sức khỏe và giáo dục. Người dân đưa hối lộ thì tự dưng mất không khoản tiền lẽ ra không phải chi.
Tham nhũng không chỉ làm dân nghèo nước yếu, mà nguy hiểm nhất là nó làm hỏng toàn bộ hệ thống cán bộ công quyền, làm hỏng nền tảng đạo đức tổ tiên để lại. Thiệt hại về đạo đức tinh thần này vô cùng lớn, hậu quả lâu dài, không thể đánh giá định lượng được. Lịch sử sẽ nói gì thế hệ chúng ta, những người để xảy ra quốc nạn ấy mà không kiên quyết trừ diệt?
Nguy hiểm thứ 2: Tham nhũng làm tăng khoảng cách giàu nghèo, tức làm tăng sự mất ổn định của xã hội; dân sẽ mất lòng tin khi thấy bộ máy công quyền từ cơ sở không có tiền "bôi trơn" thì không chạy.
Nhiều trí thức Trung Quốc cảnh báo chủ nghĩa xã hội ở nước họ đang bị thay thế dần bằng chủ nghĩa tư bản thân quen: Một số người lợi dụng quan hệ thân quen chính quyền để thao túng nền kinh tế nhằm kiếm lợi cho mình, gây thiệt hại quyền lợi của đa số nhân dân. Xã hội chia làm quần thể yếu thế là đông đảo nhân dân lao động và thiểu số quần thể quyền thế có xu hướng kết bè đảng và nối dõi.
Tham nhũng còn có thể làm mất nước hoặc mất độc lập tự chủ, ít nhất là mất một số lợi ích quốc gia. Kẻ địch thừa biết cách núp bóng các công ty đầu tư vào Việt Nam để mua chuộc cán bộ ta cho họ trúng thầu những dự án có liên quan tới an ninh quốc gia.
Vì sao khó chống tham nhũng?
Nhưng nạn tham nhũng, trong thực tế cũng rất khó chống. Đó là do: Thứ nhất, con người có bản tính tham. Nhà bác học Stephen Hawking nói mã di truyền của chúng ta có chứa các bản năng ích kỷ và xâm lấn (our genetic code "carries selfish and aggressive instincts"). Vì thế hễ có điều kiện là phần lớn người ta tự nhiên sinh lòng tham muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình, trước hết là tài sản công.
Anh tham, tôi tham, mọi người đều tham. Những kẻ phê phán tham nhũng như tôi hoặc bạn khi có chức quyền sẽ vẫn có thể tham nhũng. Người châu Á có tình cảm gia đình rất nặng, lo cho mình lại còn lo cho con cháu, họ hàng, do đó lại càng tham, sắp chết vẫn còn vơ vét.
Thứ hai, người tham nhũng là người có chức quyền (theo định nghĩa, tham nhũng là hành vi lợi dụng chức quyền để kiếm lợi), cho nên họ có quyền lực và thủ đoạn để che đậy, giấu giếm hành vi tham nhũng của mình, thậm chí trù dập người tố cáo họ. Thủ tướng Phan Văn Khải từng nói: Trước khi vụ tham nhũng ở Tamexco lộ diện, chi bộ công ty này năm nào cũng được công nhận là chi bộ trong sạch, vững mạnh.
Tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc mới đây, các đại biểu điển hình chống tham nhũng nói chỉ cựu chiến binh và người về hưu mới dám tố cáo tham nhũng.
Không kiên quyết chống tham nhũng là chấp nhận tự sát
Muốn phòng chống tham nhũng, trước hết phải thực thi hệ thống quy chế pháp lý hoàn thiện, hiệu quả, ngăn chặn mọi điều kiện dẫn đến tham nhũng, sao cho bất cứ ai dù muốn cũng không thể tham nhũng được. Nhiều nước có kinh nghiệm tốt về mặt này. Thí dụ, thực hiện luật công khai tài sản riêng của tất cả viên chức công quyền. Đồng thời hình thành bộ máy giám sát theo dõi quá trình thay đổi tài sản để tránh tẩu tán tài sản và sớm phát hiện tham nhũng. Mỗi viên chức có một hồ sơ tài sản và thu nhập trong hệ thống máy tính quản lý toàn quốc, bất cứ ai cũng có thể kiểm tra. Mọi khoản tiền chính quyền thu của dân dù nhỏ cũng phải có ghi chép công khai và được giám sát.
Do có hệ thống pháp luật phòng chống tham nhũng hoàn thiện mà phương Tây tuy công nhiên đề cao đồng tiền nhưng lại ít tham nhũng. Luật chống tham nhũng ở nước ngoài (Foreign Corrup Practices Act) của Mỹ nghiêm ngặt tới mức không công ty Mỹ nào dám đưa hối lộ cho quan chức nước ngoài. Cũng vì có luật chặt chẽ mà Chính phủ Nhật thẳng tay khởi tố vụ công ty Nhật PCI đưa hối lộ cho Huỳnh Ngọc Sỹ khi Sỹ đòi "hoa hồng" bằng 15% tổng đầu tư thì mới cho PCI trúng thầu làm dự án Đại lộ Đông Tây TP Hồ Chí Minh.
Thứ hai, lãnh đạo phải đi đầu chống tham nhũng, "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau". Lãnh đạo không ủng hộ thì mọi biện pháp, mọi quy chế phòng chống tham nhũng chỉ còn là hình thức. Phải dứt khoát không đưa người dính tham nhũng hoặc người thiếu kiên quyết chống tham nhũng lên làm lãnh đạo. Cơ quan chống tham nhũng phải độc lập với chính quyền.
Thứ ba, phải đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội, sao cho toàn dân hiểu được họ là chủ đất nước, có quyền yêu cầu chính quyền phục vụ họ mà không được đòi hỏi họ phải chi phí "lót tay". Mặt khác phải tạo điều kiện ngôn luận để người dân mạnh dạn tố cáo tham nhũng. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Phòng ngừa tham nhũng là quan trọng nhất. Để xảy ra tham nhũng rồi thì rất khó chống, nhất là khi nó đang đứng trước nguy cơ trở thành một thứ "văn hoá" của xã hội.

5 thg 1, 2011

Cán bộ là gì của dân?


Trần Huy Thuận

clip_image001
(Tamnhin.net) - Phải chăng lâu nay vì chúng ta chỉ nhấn mạnh cái vế phục vụ (“nô bộc, đầy tớ”), mà xảy ra tình trạng, một bộ phận cán bộ đã biến chất thành những tên – vẫn là "đầy tớ" đấy, nhưng là thứ đầy tớ lưu manh, ăn hiếp, ăn cắp, thậm chí ăn cướp của "chủ" - dân! 

Chúng ta thường nói: “Cán bộ là đầy tớ” của nhân dân!  Đạo Khổng, đạo Nho dạy: Quan là công (nô) bộc [1] của dân. Suốt mấy nghìn năm lịch sử, không biết bao nhiêu triều đình phong kiến Á Đông đã tuân theo điều răn dạy ấy!

Nhưng không chỉ có một vế nô bộc, triều đình phong kiến còn định nghĩa: Quan là phụ mẫu của dân! Như vậy quan vừa phải là người tận tụy làm việc cho dân (như một nô bộc); vừa phải đàng hoàng, gương mẫu trước dân (như cha mẹ của dân)!

Từ một dân tộc bị nô lệ dưới ách đô hộ của ngoại bang, được Cách mạng giải phóng, vươn lên thành chủ nhân đất nước [2], người dân còn ý thức được một điều hệ trọng: Từ nay, không còn chế độ quan lại hạch sách nhũng nhiễu dân lành. Cán bộ cách mạng là những người làm việc công tâm; vì cuộc sống, vì lợi ích chính đáng của dân mà phục vụ hết lòng! Còn vấn đề... “cán bộ là đầy tớ của dân” thì hình như trong thực tế, đại bộ phận dân chúng cũng chỉ cho đấy là một cách nói dân chủ, cách nói thể hiện sự ưu việt đặc thù của chế độ xã hội mới, mà thôi! Nói thế, không có nghĩa là không tin, mà cái chính là, ngay cả trong thời đang còn “sẻ cửa sẻ nhà” nuôi cán bộ hoạt động bí mật, dân cũng không mong, và cũng không cần cán bộ phải hạ mình  như vậy!

Phải chăng lâu nay vì chúng ta chỉ nhấn mạnh cái vế phục vụ (“nô bộc, đầy tớ”), mà xảy ra tình trạng, một bộ phận cán bộ đã biến chất thành những tên – vẫn là "đầy tớ" đấy, nhưng là thứ đầy tớ lưu manh, ăn hiếp, ăn cắp, thậm chí ăn cướp của "chủ" - dân!
Vậy thì nên hiểu người cán bộ cách mạng là gì đối với dân? Theo thiển nghĩ của người dân, cán bộ cấp nào cũng vậy, đều là viên chức nhà nước – viên chức cấp thấp và viên chức cấp cao. Là viên chức thì trước hết phải hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách, theo luật pháp; đồng thời phải hiểu được điều cốt lõi này: Đồng lương anh nhận hằng tháng, căn nhà anh ở hằng ngày, miếng cơm (cỗ) anh ăn hằng bữa, chiếc xe anh thường xuyên dùng... thảy đều của dân đóng góp từ mồ hôi nước mắt, hai sương một nắng mà có! Cái chức, cái ghếcũng do dân bầu, Đảng cử. Phải làm việc như thế nào cho xứng đáng, là trách nhiệm và lương tâm của mỗi người!
Chỉ cần làm tròn lương tâm, trách nhiệm và đúng pháp luật! Việc nào thấy đúng thì làm, nhưng phải đảm bảo không xâm phạm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của dân. Nếu vì lý do gì đó dân chưa hiểu thì phải giải thích cặn kẽ, thấu tình đạt lý, không hùng hổ áp đặt, cưỡng bức. Việc nào làm sai phải sửa, không cãi chầy, nói ngang, nói cùn hoặc "kiểm điểm lấy lệ". Đừng cho mình là tầng lớp cao hơn dân; hoặc nhầm tưởng mình giống như vua quan phong kiến, lúc nào cũng chỉ muốn làm cha làm mẹ dân! Làm cha mẹ mà lại cứ chỉ nghĩ cách ăn cướp thật nhiều tài sản của con dân, thì “cha mẹ” ấy là thứ cha mẹ nào?!.

4 thg 1, 2011

Có đáng vậy không?

 

Đọc bài viết này đăng trên các báo chí mà lòng tôi lại thắt lại. Câu hỏi đặt ra là có đáng phải vậy không? Phải chăng các lãnh đạo nhà mình có tầm xa, muốn làm những điều có ích cho đất nước hay là một lý do nào khác.

Một dự án xuyên Á làm thay đổi tất cả ư? Thật là mơ hồ biết bao. Không cần tính toán nhiều chúng ta cũng biết ngay là dự án sẽ không có hiệu quả. Người ta hi sinh đất nước này vì cái gì?

Chỉ có những người trong cuộc mới đưa ra được một câu trả lời chính thức. Còn về không chính thức thì rất nhiều người biết tại sao lại như vậy

 'Dứt khoát phải làm đường sắt cao tốc'

Tàu shinkansen của Nhật
Việt Nam muốn xây đường sắt cao tốc theo mô hình của Nhật

Bộ trưởng Giao thông Vận tải khẳng định sẽ làm lại để trình Quốc hội báo cáo tiền khả thi dự án đường sắt cao tốc vốn bị bác hồi năm ngoái.

Hồi tháng Sáu, Quốc hội Việt Nam đã bác đề xuất cho dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP Hồ Chí Minh trị giá 56 tỷ đôla.
Nay bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng nói trong một cuộc họp báo ở Hà Nội rằng một "đơn vị tư vấn" của Nhật Bản đang chuẩn bị ký hợp đồng nghiên cứu khả thi dự án tàu cao tốc với Việt Nam để thúc đẩy dự án này.
Nội dung hợp tác được ông Dũng cho biết là "làm lại báo cáo tiền khả thi trước đó đã trình Quốc hội, bổ sung một số vấn đề cho rõ thêm".
Ông bộ trưởng cũng được báo Sài Gòn Giải Phóng dẫn lời nói sẽ có hai dự án khả thi cho hai tuyến Hà Nội – Vinh và Nha Trang – Sài Gòn, để "trên cơ sở đó lên quy hoạch chi tiết cắm mốc giới tuyến nhằm giữ đất về lâu dài".
Ông Hồ Nghĩa Dũng khẳng định: "Dứt khoát là phải làm."
Tuy nhiên, ông nói Chính phủ sẽ xem xét kỹ lưỡng trước khi trình Quốc hội: "Chính phủ quyết tâm để chuẩn bị dự án chứ không phải là Chính phủ cứ làm mà không báo cáo Quốc hội như mọi người ngộ nhận".

Lo về khả năng tài chính

Ông bộ trưởng cũng thú nhận rằng quan ngại lớn nhất trong dự án đường sắt cao tốc là khả năng tài chính, mà ông gọi là "nguồn lực".
"Bản thân của dự án một phần nhưng còn phải xem sức chịu đựng của nền kinh tế."
Dù Quốc hội Việt Nam đã bác dự án tàu cao tốc Bắc Nam, Bộ Giao thông Vận tải nay nghiên cứu kế hoạch xây hai tuyến đường ngắn hơn, với tính toán rằng hai tuyến đường này sẽ chóng hoàn vốn nhất.
Vốn ODA của Nhật sẽ được sử dụng cho dự án này.
Phía Nhật Bản tỏ ra mặn mà với dự án tàu cao tốc ở Việt Nam.
Ngay từ hồi tháng Tư 2010, Bộ trưởng Giao thông Seiji Maehara đã tuyên bố với báo chí rằng Tokyo đang nghiên cứu việc trợ giúp tài chính cho Việt Nam.
Đổi lại, các công ty Nhật Bản được trông đợi tham gia xây dựng và chuyển giao công nghệ cho dự án này.
Được biết, các tập đoàn công nghiệp hàng đầu Nhật Bản là Sumitomo, Mitsubishi Heavy Industries Ltd., Itochu và Kawasaki Heavy Industries Ltd. đều đang có nguyện vọng tham gia dự án.