12 thg 11, 2012

Giả dối lên ngôi, đạo đức suy đồi

Thanh Quang, phóng viên RFA
Lời bình của Hà Sĩ Phu:
Có hay không một “Quốc nạn Giả dối”?
Bây giờ nếu mở cuộc trưng cầu dân ý với câu hỏi “xã hội ta bây giờ có giả dối không” thì tôi dám chắc trăm phần trăm dân chúng sẽ cười vào mũi Ban Tổ chức rằng: Hỏi vớ vẩn thế mà cũng hỏi, điều ai cũng biết tỏng mà còn hỏi, điên à?
Nhưng nếu mở cuộc thi sáng tác về “quốc nạn giả dối” thì các tác phẩm sẽ vô cùng phong phú, và rất có thể sẽ xuất hiện những tác phẩm “tương xứng với thời đại” vì tư liệu thì ngồn ngộn, trên dối trá to, dưới dối trá nhỏ, trong nhà ngoài ngõ… đâu đâu chả sờ thấy dối trá, xử tội dối trá thì có mà tù cả nước.
Có lẽ chỉ cần hai chữ LÊN NGÔI là đủ nói lên tất cả: Vì đã lên ngôi (dĩ nhiên là ngôi cao, ngôi thống trị) thì nó “thống trị xã hội”, nó làm thoái hóa cả “hệ thống” tức là “từ A đến Z” và tình trạng đương nhiên là “trầm kha”. Mặt khác đã “lên ngôi” thì vua chúa nào rồi cũng đến lúc mất ngôi, "vua Dối trá" cũng vậy, có thể nào trường cửu?
Tuy vậy nói về Dối trá khó nhất là tìm ra nguyên nhân vì từ đó mới có phương sách chữa trị. Trong 5 câu hỏi mà Blogger Alan Phan đề cập dưới đây thì câu thứ tư (Yếu tố nào đã gây nên những hệ quả này: dân trí, kinh tế, lịch sử hay thể chế?) hẳn là câu trung tâm.
Xin để bạn đọc cùng suy nghĩ. Riêng tôi lưu ý đến ý kiến của GS Trần Kinh Nghị: “làm thì láo, báo cáo thì hay” cùng thói “chạy theo thành tích” vốn phát xuất từ thời XHCN ở Miền Bắc”…, và “Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc”… Cả hai yếu tố mà GS Trần Kinh Nghị đề cập đều là những yếu tố nhất thời nổi lên, mà đã nhất thời thì còn cơ may sửa đổi.
Nghĩa là dân ta vốn có “gốc” tốt, chỉ nhất thời bị những xáo động của chế độ chính trị làm cho “mất gốc” (chữ của ông Dương Trung Quốc). Chứ nếu dối trá là bản chất gắn với những yếu tố trường cửu của lịch sử và dân tộc Việt Nam thì dân tộc ta đã “mạt kiếp” từ lâu, chứ làm gì có những trang sử oai hùng và những di sản văn hóa phi vật thể ở tầm cao để con cháu ngày nay ngẩng mặt cùng thiên hạ?
Sẽ không ngoa khi nói: Cả nước dối trá sẽ mất nước! Diệt trừ Dối trá để cứu nước! Nói thật để cứu nước!
Một bạn BCA gởi tôi bài viết trên đăng trên BBC [trên RFA, Alan Phan nhầm – chú thích củaBVN] cách đây vài tháng để xin tôi câu bình luận. Thực tình, tôi không chắc là mình có được sự hiểu biết sâu rộng về xã hội này cũng như một góc nhìn khách quan để đánh giá một vần nạn có thể nói là nghiêm trọng và căn bản trong sự vận hành của một quốc gia.
Tôi xin dành sân chơi này cho các bạn: những người con của tổ quốc đang trải nghiệm trong môi trường; đang có những băn khoăn bức xức (hay đang an hưởng hạnh phúc); muốn nhìn thấy một Việt Nam khác biệt (hay vẫn như thế); và có một tình yêu quê hương sâu đậm (hay makeno).
Tôi xin đề nghị vài câu hỏi.
  1. Sự giả dối có lan tràn từ A đến Z hay không? Hay chỉ là cục bộ và không trầm trọng đến vậy?
  2. Đây có phải là một vấn đề cơ chế cần tái cấu trúc toàn bộ? Hay có thể sừa sai từng phần?
  3. Nếu sự xuống cấp của xã hội quá tồi tệ thì bản thân và gia đình bạn sẽ chịu đựng và tốn tại như thế nào? Trong bao lâu?
  4. Yếu tố nào đã gây nên những hệ quả này: dân trí, kinh tế, lịch sử hay thể chế?
  5. Bạn có thể tạo cho mình một ốc đảo thanh bình giữa những nhiễu nhương?
Let the game begins…trong những ngày hè lười biếng và nóng nực.
Từ A đến Z
Qua bài “Lạm bàn về căn bệnh dối trá tại Việt Nam”, Giáo sư Trần Kinh Nghị từ Hà Nội đề cập tới điều có thể nói hài hước – nhưng chua chát – rằng “ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”.
Một nhà giáo dục luôn quan tâm cho vận nước, dân tộc là GS Hà Văn Thịnh từ Huế cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở Việt Nam giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội Việt Nam:
Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.
GS Hà Văn Thịnh
“Trong bản chất xã hội Việt Nam có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa Việt Nam hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.”
clip_image001Theo GS Trần Kinh Nghị, thì dối trá thoạt nghe qua cũng chỉ là một thói đời không mấy tốt đẹp vốn nhan nhản trong xã hội loài người, nên người ta dễ tưởng rằng “không có gì nguy hại lắm”. Nhưng, khi “Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam”, GS Trần Kinh Nghị không khỏi lưu ý rằng “Ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng”. Những “đặc thù riêng” ấy là như thế nào?
Tác giả giải thích:
“Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn giai phẩm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ cũng khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính hai mặt, nói và làm không đi đôi với nhau.”
Căn bệnh trầm kha
Vẫn theo GS Trần Kinh Nghị, thói “làm thì láo, báo cáo thì hay” cùng thói “chạy theo thành tích” vốn phát xuất từ thời XHCN ở Miền Bắc đã góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh dối trá ở Việt Nam hiện nay, và đã trở thành “căn bệnh trầm kha bám sâu rễ trong toàn xã hội đến độ ai không biết nói dối, không biết làm ẩu và không biết ‘ăn theo nói leo’ thì không thể tồn tại”.
Và tác giả báo động rằng tệ nạn bè phái, tham nhũng nghiêm trọng tràn lan trên khắp quê hương hiện nay cũng có nguyên nhân sâu xa từ căn bệnh dối trá ấy, để từ đó, sinh sôi và dung dưỡng cho “những kẻ bất tài, vô đạo đức nhưng thích làm quan”.
Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” đã thẳng thắn đề cập tới “một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người”. Theo cái nhìn của nhà văn Nguyên Ngọc thì tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức ấy phát sinh từ một “căn bệnh” cứ “vây kín quanh mình”, “va vào đâu cũng gặp” dưới “mọi kiểu trắng trợn hay tinh vi”, đó là sự giả dối.
Nhà văn Nguyên Ngọc phân tích:
“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”
Đang thống trị xã hội
Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng không tránh khỏi âu lo khi căn bệnh giả dối ấy “đang thống trị xã hội” Việt Nam, mà chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thiếu trung thực của nền giáo dục nước nhà:
“Sự giả dối tồn tại ở xã hội Việt Nam lâu rồi. Ngay trong lãnh vực giáo dục, ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phụ trách các mặt văn hóa-giáo dục cũng khẳng định là tình trạng thiếu trung thực trong giáo dục là bệnh lớn nhất tại VN.
Mà giáo dục là gì? Giáo dục là dạy cho con người trở thành người. Nó dạy cho con người phải có đạo đức. Mà cái đầu tiên của đạo đức là chân thật. Giả dối thì trái ngược lại, là phản giáo dục. Vừa rồi nhà bác học toán học Hoàng Tụy cũng vừa viết một bài rất hay góp ý cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tái cấu trúc xã hội
Theo GS Hoàng Tụy thì không thể nào tái cấu trúc xã hội. Bởi vì tái cấu trúc là những bộ phận rời. Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.”
Cả một hệ thống
Cách nay chưa lâu – tức hồi cuối năm ngoái, vào một buổi chiều cuối năm, khi “giá rét và nỗi buồn… tràn ngập tâm hồn khiến nỗi lòng chùng xuống”, TS Nguyễn Xuân Diện đã phóng bút bài “Chiều cuối năm nhìn lại”, qua đó ông không quên lưu ý tới “những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc án, quyết liệt” hơn.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng có cái nhìn tương đồng về việc xã hội Việt Nam ngày nay – mà theo lời ông, “xuống cấp chưa từng thấy”:
“TS Nguyễn Xuân Diện nói thế là chính xác bởi vì điều đó có rất nhiều người đã khẳng định rồi. Ngay cả nghị viên Quốc hội Việt Nam Dương Trung Quốc cũng nói rằng thế hệ chúng ta là thế hệ mất gốc. Mà mất gốc là mất những giá trị tốt đẹp của Việt Nam.
Còn xã hội Việt Nam hiện nay, về mặt đạo đức, xuống cấp chưa từng thấy. Tình trạng này đầy tràn những mặt báo “lề phải”: Ngày nào cũng cướp, cũng giết, cũng có những tội phạm xã hội khủng khiếp. Nó tràn lan, không còn là hiện tượng riêng lẻ, mà cả hệ thống như vậy rồi.”
Nếu ngày xưa – cách nay hơn một thế kỷ – nhà thơ Trần Tế Xương than phiền và báo động tình trạng xã hội Việt Nam lúc đó suy đồi về đạo đức, khi:
Nhà kia lỗi đạo con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
thì ngày nay, tình hình đạo đức sa sút ngày càng trầm trọng trong nước đang gây bất an, trăn trở triền miên cho những người có tâm huyết với quê hương.
T. Q.

GS Nguyễn Đăng Hưng:Mải chăm lo bộ lông mà quên đạo lý

Giáo dục học đường không khai phóng trí tuệ, không khuyến khích sáng tạo, tinh thần phản biện, thói quen trao đổi thảo luận mà chủ tâm nhồi nhét, phát tán những quan điểm một chiều, thiếu sinh động, xa rời thực tế.- ý kiến của ông Nguyễn Đăng Hưng, GS danh dự thực thụ ĐH Liège, Bỉ.

Tự mãn che lấp bất cập
PV:- Thưa ông, trong các báo cáo thành tích thường niên cũng như từng 5 năm một, bao giờ cũng là điệp khúc "chúng ta đã và đang đạt được những thành tựu mới trong khoa học, giáo dục, hướng tới đẳng cấp quốc tế..." nhưng trên thực tế thì so sánh thứ hạng khoa học, số bằng sáng chế, số tên tuổi những nhà khoa học trong nước được thế giới công nhận, Việt Nam chưa đạt được nhiều thành tựu, ở đa số các lĩnh vực là "dậm chân tại chỗ" hoặc thụt lùi. Đây có phải là "nghịch lý", "nghịch dị" hay là siêu logic thưa ông? Ông giải thích hiện tượng này như thế nào?
GS Nguyễn Đăng Hưng: - Có lẽ từ "siêu logic" gần hơn với câu trả lời. Thật vậy, việc lạc đường trong chính sách giáo dục cũng như nghiên cứu khoa học đã tồn tại trên nửa thế kỷ rồi. Cái điệp khúc tư mãn về thành tựu vốn là bài ca cố hữu dùng để che lấp những bất cập, những thất bại triền miên nay không còn hiệu quả nữa. Thông tin đã trở thành không gian mở và không những bậc trưởng thượng mà người dân thường cũng bắt đầu bị dị ứng.
Phải thay đổi thôi. Nhưng vấn đề là bằng cách nào và với ai thì vẫn còn hoàn toàn bế tắc. Nếu có nghịch lý thì chính là chỗ này. Người ta biết không thể tiếp tục, phải cải cách, nhưng vẫn khư khư ôm lấy cơ chế cũ rích với những nhân sự xơ cứng, với mớ kiến thức hạn hẹp của thời bao cấp giáo điều, thì làm sao có được sự đổi thay.
Cái bắt đầu, những quyết định cơ bản vẫn chưa ló dạng thì làm sao tránh được tình trạng "dậm chân tại chỗ" hoặc thụt lùi. Nghịch lý phát xuất từ lỗi hệ thống. Mà cũng như trong tin học, nếu không cài đặt lại hệ thống mới, thay đổi quyết liệt hệ điều hành gồm nhân sự mới, có thực học, thực tài, có kinh nghiệm ở các nước tiên tiến, có hiểu biết và khả năng loại trừ những bệnh di căn, những khuất tất thường trực thì làm sao có đổi thay tiến bộ. Cũng phải nói khi căn bệnh đã vào xương vào tủy thì thời gian chữa trị phải lâu, thuốc phải mạnh, đủ hàm lượng thì mới mong có kết quả…
Bởi vì thế mà tình trạng tụt hậu ngày càng trầm trọng ra. Bây giờ so với Malaysia, Thái Lan ta đã thua rồi. Sắp đến nếu tiếp tục như hiện nay, chúng ta sẽ thua luôn so với Campuchia, Myanmar…
GS Nguyễn Đăng Hưng
GS Nguyễn Đăng Hưng
PV: - Trong khi thứ hạng khoa học không thăng tiến, nghĩa là sự phát triển trí tuệ hay nỗ lực hội nhập khi mở cửa với thế giới là không thu hoạch được gì thì người Việt lại càng ngày càng xa xỉ, kinh tế khó khăn nhưng vẫn chi mạnh tay không kém bất cứ đại gia nào ở các nước phát triển. Đây có phải là mối quan hệ biện chứng trí tuệ giảm thì sự chiều lụy thân xác tăng lên?
GS Nguyễn Đăng Hưng: - Đây cũng là hậu quả của các chính sách vĩ mô của nhà nước hiện hành. Đổi mới về văn hóa học thuật, giáo dục, quản lý khoa học thì đứng nửa vời, đầy nghịch lý trong khi đó thì làm giàu được khuyến khích, hết mực đề cao.
Những trọc phú ít học, nhưng có điều kiện tích lũy của cải vật chất bằng mọi cách, ngay cả việc kinh doanh địa vị, chiếm hữu đất đai, nhà cửa của người thấp cổ bé miệng ngày càng xuất hiện nhiều.
Họ có tiền một cách quá dễ dàng, quá nhanh, chẳng cần tài ba, trí lực, sức lao động, thì việc coi thường giá trị đồng tiền, dùng đồng tiền để che lấp những khiếm khuyết về tri thức, về nhân cách là đương nhiên. Cái này không phải chỉ có ở Việt Nam.
Nhưng tôi thấy tại Việt Nam ở những năm gần đây, tình trạng này phát triển quá sức tưởng tượng với những diện mạo gớm ghiếc, những hành vi vô cùng phản cảm…
Tôi đồng ý với nhận định của nhà báo: Đây chính là mối quan hệ biện chứng khi trí tuệ không được bồi dưỡng thì nhân cách tha hóa, đạo đức suy tàn, sự chiều lụy thân xác tăng lên.
Đạo đức tụt bậc từ ngày giả dối lên ngôi

PV: - Bây giờ, ở đâu cũng có thể bắt gặp, chứng kiến những nghịch cảnh như: một người đi xe Lexus mắng xa xả vào người bán hàng rong vì dám chắn lối xe của ông ta bên lề đường mà chẳng người nào lên tiếng phản đối. Tâm lý trọng giàu khinh nghèo, coi giàu có tiền bạc là thước đo đẳng cấp xã hội đã thay thế hẳn những quy tắc ứng xử như bênh vực kẻ yếu, kiến ngãi bất vi... Nghĩa là, khi các bảng so sánh thứ hạng về trí tuệ trong đó chúng ta tụt bậc thì cùng với nó là những giá trị văn hóa, văn minh, đạo đức cũng tụt bậc theo, quá trình "phi nhân hóa" này được giải thích hay biện minh như thế nào, thưa ông?
GS Nguyễn Đăng Hưng: - Làm sao giải thích được tình trạng “phi nhân hóa” hay trầm trọng hơn tình trạng “lưu manh hóa” như hiện nay?
Tâm lý trọng giàu khinh nghèo là tâm lý của một xã hội đang phát triến theo chiều hướng lệch lạc. Nó ấu trĩ như một đứa trẻ không may sống nhờ một người lớn có nhiều khiếm khuyết, không được dạy dỗ đến nơi đến chốn. Tâm lý này là tệ hại nhưng qua thời gian có thể thay đổi qua giáo dục phổ thông bằng những bài học thường thức.
Nhưng khi những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối thì là điều rất ư trầm trọng. Điều này có nghĩa là môi trường nhân gian đã bị băng họa, đạo đức của một xã hội lành mạnh đã không còn, xã hội đã bị sa mạc hóa và việc phục hồi là vô cùng gay go, đòi hỏi hằng thập kỷ, hằng thế kỷ mới vực lại được. Tình trạng đó đến từ đâu?
Nó đến từ ngày giả dối lên ngôi, từ ngày con người không còn có tự do chọn lựa nữa, từ ngày con người bắt đầu không phân biệt cái phải cái quấy, từ ngày những giá trị đạo đức đích thực ngàn năm bị hủy hoại…
Giả dối đã lên ngôi và phát triển qua tháng năm đã trở thành bao trùm cả chính đạo, tình người. Khi giả dối lên ngôi thì còn gì là văn hóa văn minh, còn gì khoa học, tri thức? Khi giả dối nhan nhản ở mọi nơi, mọi chỗ mà người chính trực không có cách chi phản biện can thiệp, vạch trần, cáo giác đến nơi đến chốn, thì quy tắc ứng xử dẫn tới sự thụ động, sự im lặng, sự chấp nhận, sự ươn hèn. Đây là hậu quả phải chờ đợi mà thôi…
PV: - Thông thường, chúng ta hay giải thích trí tuệ phát triển chậm là do các điều kiện kinh tế còn khó khăn chi phối, tiếng thét của dạ dày thường to hơn tiếng nói thì thầm của học thức, đạo lý....nhưng ở đây là câu chuyện tiêu tiền lớn cho những món đồ xa xỉ và coi đó là đẳng cấp vị thế trong xã hội. Như vậy, ở cả hai chiều kích đều dẫn đến sự ưu tiên cho chiều lụy thân xác, nô lệ của đồ vật mà không thấy bóng dáng của trí tuệ hay đạo đức ở đâu. Chúng ta phải hiểu điều này như thế nào, thưa ông?
GS Nguyễn Đăng Hưng: - Trừ những vùng cao, vùng xa thu nhập của người dân quá ít ỏi, phần đông tại thành thị hay ở nông thôn phì nhiêu, cuộc sống đã khấm khá và tiếng thét của dạ dày cũng đã bớt chát chúa. Thế nhưng tại sao người ta vẫn cứ“chăm lo đến bộ lông của mình” đến mức át đi tiếng thì thầm của học thức, đạo lý?
Tôi cho đây là hậu quả của một nền giáo dục bị chệch hướng, một môi trường xã hội bị bóp méo.
Giáo dục học đường không khai phóng trí tuệ, không khuyến khích sáng tạo, tinh thần phản biện, thói quen trao đổi thảo luận mà chủ tâm nhồi nhét, phát tán những quan điểm một chiều, thiếu sinh động, xa rời thực tế.
Các kỳ thi trung học đại cúng gần đây đã phát hiện là đại đa số, học sinh chán ngán học sử, không mặn mà với văn nữa. Vì sao vậy, vì đây là những môn được chính trị hóa một cách thô thiển nhất… Và khi trên ghế học đường tuổi trẻ chỉ lo sao chép, học thuộc lòng không tiêu hóa được bài học, không được khuyến khích theo hướng tự do tìm tòi học hỏi, độc lập suy nghĩ, thì thói quen động não bị ngưng trệ, trí tuệ trở thành xơ cứng…
Lớn lên, vào đời, họ sẽ không thích suy nghĩ, họ sẽ không ham đọc sách, không có dịp cập nhập thường xuyên những giá trị chân thiện mỹ, cần thiết cho việc xây dựng nhân cách, củng cố cá tính.
Và những phương tiện thông tin đại chúng cũng đồng loạt hòa nhịp theo cách hành xử khép kín một chiều như vậy.

Trong trình trạng ấy làm sao sinh hoạt tri thức không bị hạn hẹp, đạo đức không bị xói mòn? Phát biểu trước các sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân ngày ông nhận bằng tiến sỹ danh dự ở Hà Nội, Phó Thủ tướng Đức gốc Việt, ông Philipp Roesler đã thẳng thắn nhắc nhở: “Với những người không chọn cho mình cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và thiếu nó thì kinh tế cũng sẽ không có tự do xã hội.”
Tôi xin nói thêm là những người ấy sẽ vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, sẽ trở thành nô lệ của vật chất thấp kém, sẽ chỉ vâng theo một động cơ duy nhất là tinh thần thực dụng vị kỷ. Ý niệm mọi người vì mình, mình vì mọi người sẽ chỉ là những hoài niệm xa vời của một thời mà lý tưởng dấn thân vì độc lập dân tộc, vì công bằng xã hội được suy tôn lên hàng đầu.
Tôi hiểu tình trạng này như vậy đó.
  • Hoàng Hạnh (thực hiện)

4 thg 9, 2012

“Hiến pháp không phải để ban ơn cho nhân dân”

(Phỏng vấn PGS. TS. Nguyễn Như Phát)
Thanh Lưu thực hiện
clip_image001
Vào một buổi sáng lạnh mùa đông năm 2007, tại một ga metro ở Washington DC, một thanh niên với chiếc đàn vĩ cầm, đứng chơi những bài nhạc nổi tiếng của Bach, Schubert, Massenet… trong vòng 45 phút.
Trong khoảng thời gian ấy có khoảng chừng 2 ngàn người đi ngang qua, đa số đang trên đường đến sở làm của họ. Dường như không một ai có vẽ chú ý đến sự có mặt của anh.
Sau khoảng 3 phút, một người đàn ông đứng tuổi đi qua và nhận thấy có một nhạc sĩ đang đứng đó chơi vĩ cầm. Ông đi chầm chậm, dừng lại chừng vài giây, và rồi lại vội vã đi tiếp cho kịp giờ của mình.
4 phút sau:
Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy nhận được đồng đô la đầu tiên: một người đàn bà ném tiền vào thùng đàn của anh và không hề dừng lại, tiếp tục bước đi.
6 phút:
Một người thanh niên trẻ đứng dựa vào tường lắng nghe anh, nhìn đồng hồ đeo tay của mình và rồi lại tiếp tục bước đi.
10 phút:
Một đứa bé dừng lại nghe, nhưng mẹ của em vội vàng lôi em đi tiếp. Ðứa bé tiếp tục dừng lại nhìn anh nhạc sĩ vĩ cầm, nhưng mẹ của em đẩy mạnh, và em lại phải tiếp tục bước đi, nhưng em vẫn cứ ngoái đầu quay nhìn lại. Và điều này cũng đã xảy ra với nhiều những đứa bé khác. Và cha mẹ nào cũng đều lôi kéo các em, bắt các em phải đi nhanh lên.
45 phút:
Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy vẫn tiếp tục chơi nhạc không ngừng. Chỉ có 6 người dừng lại và lắng nghe trong vài ba phút rồi bỏ đi. Khoảng chừng 20 người cho anh tiền, trong khi vẫn tiếp tục bước đi bình thường, và không hề dừng lại. Chàng nhạc sĩ ấy thâu được tổng cộng là 32 đô la.
1 giờ sau:
Anh ta ngừng chơi, không gian im lặng trở lại. Không ai chú ý đến anh. Không một tiếng vỗ tay, và cũng không một lời tán thưởng.
Không ai biết người ấy chính là Joshua Bell, một trong những nhạc sĩ vĩ cầm nổi danh nhất trên thế giới. Trong hơn 45 phút qua anh đã chơi những bài phức tạp nhất trong các bài nhạc trình tấu, và cây đàn vĩ cầm mà anh chơi trị giá khoảng 3,5 triệu đô la. Hai ngày trước đó, Joshua Bell đã trình diễn tại một nhà hát ở thành phố Boston, vé bán hết không còn chỗ ngồi, giá của mỗi vé là 100 đô la. Và ban tổ chức sẵn sàng trả 1000 đô la mỗi phút cho tài năng của anh!
Ai cũng nhận rằng ý kiến của vị Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Nguyễn Như Phát dưới đây là tâm huyết và... chí phải. Nhưng chỉ không biết ông có rơi vào cảnh ngộ của nghệ sĩ vĩ cầm thiên tài Joshua Bell khi đứng trước cái “ga métro” kỳ lạ là... Quốc hội CHXHCNVN vốn đang được điều khiển bởi một người đầy oai quyền là ông Nguyễn Sinh Hùng hay không.
clip_image002
Bauxite Việt Nam
Cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy.
Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) hiện nay, người ta nhắc rất nhiều đến Hiến pháp 1946 và tư duy xây dựng luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách thức thiết kế, thể hiện các quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã chứa đựng những tư tưởng tiến bộ mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), xung quanh vấn đề này.
. Phóng viên: Những giá trị tiến bộ của Hiến pháp 1946 về quyền công dân là gì, thưa ông?
clip_image003
+ PGS. TS. Nguyễn Như Phát (ảnh): Dưới thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, do bối cảnh chính trị xã hội lúc bấy giờ, những người soạn thảo Hiến pháp 1946 là những người có tài, thức thời và không bị chi phối bởi tư tưởng giai cấp hoặc chính trị quá nhiều. Do đó, bản Hiến pháp đầu tiên này có những giá trị rất cấp tiến, tư duy mạch lạc, thể hiện tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến hiện đại. Theo đó, Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực cụ thể của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc, phương pháp thực thi quyền lực Nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Tinh thần của Hiến pháp 1946 như vậy nên ngay cả việc sắp xếp các chương thì quyền con người, quyền công dân cũng nằm ở chương hai trong khi trong Hiến pháp hiện hành là chương năm. Sắp tới, bản Hiến pháp sửa đổi chắc sẽ có sự thay đổi và quay về cách sắp xếp của bản Hiến pháp ban đầu.
Mặt khác, Hiến pháp vẫn là văn bản quy phạm pháp luật và phải có giá trị thi hành. Điều đó có nghĩa là quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp có giá trị áp dụng trực tiếp, không có nhu cầu cần phải cụ thể hóa. Những quyền của công dân trong Hiến pháp 1946 thể hiện rõ nhất điều đó chứ không kèm thêm câu “theo quy định của pháp luật” như từ Hiến pháp 1980 trở đi.
Trên thực tế thì quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp thường cần đến luật quy định cụ thể. Muốn điều chỉnh những quyền này của công dân thì Nhà nước phải có luật nhưng không phải là cắt xén tinh thần của Hiến pháp. Luật đó chỉ mang tính chất trình tự thủ tục và dĩ nhiên, ở một xã hội văn minh thì quyền đó phải được thực hiện trong một khuôn khổ và trình tự nhất định. Tuy vậy, việc hạn chế quyền của công dân có thể được thể hiện theo quy định của luật (chứ không phải của mọi pháp luật) và phù hợp với Hiến pháp chứ không phải hạn chế vì lợi ích Nhà nước.
Phiên họp lần thứ tư Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, phát biểu trong phiên họp lần thứ tư năm 2012. Ảnh: TTXVN
Giữ gìn sự thiêng liêng của Hiến pháp
. Vậy quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 có gì khác so với hiện nay?
+ Trước giờ chúng ta vẫn quen đánh đồng lợi ích công cộng với lợi ích Nhà nước là một nhưng hoàn toàn không phải như thế. Nhà nước chỉ là một chủ thể trong xã hội và có lợi ích riêng của mình còn xã hội có rất nhiều chủ thể có lợi ích riêng. Những quy định hạn chế một phần, hạn chế quyền của công dân để đảm bảo lợi ích công cộng đều phải được cân đong đo đếm để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp.
Theo tôi, cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy. Đây là sự khác biệt rất lớn về tư tưởng lập hiến từ Hiến pháp năm 1980 trở đi so với Hiến pháp 1946.
Từ Hiến pháp 1980, triết lý lập hiến của ta là mọi quyền cơ bản của công dân đều phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật nhưng cách ban hành pháp luật của chúng ta lại có vấn đề. Nếu hiểu theo cách đó thì theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những ông nghị làng nghị xóm cũng có thể xóa đi một điều trong Hiến pháp. Đơn giản là do các ông ấy có thể ra nghị quyết (được coi là pháp luật) mà nghị quyết này trên thực tế lại không bị kiểm soát. Hơn nữa, trên thực tế, rất ít thấy việc văn bản pháp luật của cấp dưới bị hủy bỏ bởi cấp trên. Như vậy, sự thiêng liêng của Hiến pháp đã bị ảnh hưởng.
Pháp luật không phải để cai trị
. Từ triết lý lập hiến như vậy, ông có suy nghĩ gì về cơ chế ban hành pháp luật hiện nay?
+ Cách thức, tư duy làm luật cũng không khác gì so với việc ban hành Hiến pháp. Lâu nay người ta vẫn nghĩ pháp luật là của Nhà nước, là công cụ mà Nhà nước dùng để cai trị và quản lý xã hội. Vì thế, hiểu theo nghĩa thô thiển, cơ quan ban hành pháp luật dễ “tự do” ấn định ý chí của mình vào văn bản pháp luật để cho dân thực hiện. Đặc biệt, cách tư duy như vậy sinh ra tư tưởng làm luật ban ơn, Nhà nước ban phát đến đâu, dân hưởng đến đó.
Cạnh đó, mọi người vẫn nghe khẩu hiệu đưa pháp luật vào cuộc sống song chưa ai đặt ra vấn đề đưa cuộc sống vào pháp luật. Nếu không đưa cuộc sống vào pháp luật thì pháp luật đang tồn tại có được coi là pháp luật hay không? Đó là chưa bàn tới câu chuyện nó có khả năng thực thi hay không. Luật không phản ánh nhu cầu thật của xã hội thì làm sao xã hội có thể thực hiện nó, ấn nó vào xã hội làm sao được? Đây là vấn đề về tính chính đáng của pháp luật.
. Ông có thể đưa ra những ví dụ cụ thể?
+ Thí dụ việc giao cho Bộ Công an chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình thì đương nhiên Bộ Công an phải nghĩ làm sao cho hoạt động an ninh được đảm bảo. Và người ta sẽ có những quy định về biểu tình để đảm bảo an ninh theo nghĩa của những người làm an ninh chứ chưa chắc đã phải là của nhân dân.
Một thí dụ khác là trong ngành tài chính của ta, từ cơ quan nhỏ đến cơ quan to cứ chăm chăm làm sao thu được nhiều thuế của dân. Nhưng kinh tế học chứng minh đó là tư duy sai lầm, kể cả khi việc đó phục vụ cho mục tiêu làm giàu ngân sách quốc gia. Anh thu nhiều thuế, thu thuế cao thì người ta không đóng và sinh ra đủ kiểu trốn thuế. Không có nhà nước nào khôn hơn dân và không có nhà nước nào mạnh hơn dân cả!
Cân đối lợi ích trong ban hành pháp luật
. Thế tại sao tư duy làm luật này vẫn còn tồn tại, thưa ông?
+ Theo tôi, hệ thống thực thi pháp luật, trình tự thủ tục hành chính, tư tưởng đạo đức của con người trong bộ máy nhà nước đang làm cho vấn đề này càng trầm trọng thêm. Thêm vào đó là vấn đề quan trí. Báo chí cũng đã từng lên án về tệ chạy chức chạy quyền. Có mua ắt có bán. Đây là thị trường béo bở mà nhà đầu tư kém cỏi nhất cũng nghĩ đến chuyện hoàn vốn. Trong đó thời gian hoàn vốn chính là nhiệm kỳ, đó là một trong những vấn đề sinh ra tư duy nhiệm kỳ. Tư duy chính trị, truyền thống lập pháp, thực trạng của hệ thống quản lý trên đều là những yếu tố có thể giải thích nguyên nhân tại sao luật pháp lại hay vơ vào cho Nhà nước như vậy.
Bên cạnh đó, tham nhũng chính sách là thứ vô cùng nguy hiểm. Loại tham nhũng này được dựa trên những cơ sở của pháp luật, xuất phát từ vai trò chủ trì soạn thảo pháp luật. Loại tham nhũng này dựa trên cơ sở hợp pháp nên có hậu quả khôn lường.
Lợi ích và cục bộ ngành cũng là vấn đề làm suy yếu Nhà nước. Các bộ, ngành, các địa phương đều cùng ngồi trong một con thuyền là Nhà nước. Nếu họ không cùng phối hợp nhịp nhàng và trên tinh thần phục vụ nhân dân toàn quốc vì sự phát triển chung và đồng đều của đất nước thì sẽ không là những vector cùng chiều để tạo thành sức mạnh chung cho Chính phủ.
Trên thực tế, có những vấn đề vượt phạm vi của một ngành, một bộ, buộc họ phải ngồi lại cùng nhau để ban hành chính sách hay pháp luật (thí dụ như thông tư liên bộ). Những vấn đề lớn hơn sẽ phải do tập thể Chính phủ bàn bạc và quyết định (dưới dạng nghị định). Những vấn đề quan trọng của đất nước phải do Quốc hội quyết định. Trong quá trình đó, nếu không “cân đối” được lợi ích ngành, địa phương với lợi ích quốc gia thì quản lý đất nước sẽ không minh bạch, không thông suốt và tạo kẽ hở cho tiêu cực trong hệ thống và lãng phí xã hội, tạo cơ chế xin - cho.
Những hiện tượng như các địa phương, các ngành tìm cách để xin cơ chế riêng, thậm chí cả các đoàn đại biểu Quốc hội có thể tạm quên đi lợi ích quốc gia mà phấn đấu cho lợi ích địa phương mình… đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cục bộ. Những “phi vụ” đó thành công thì cơ chế và chính sách sẽ được hợp pháp hóa. Nếu không đổi những tư duy này từ gốc thì pháp luật của chúng ta không thể làm bà đỡ cho xã hội phát triển.
. Xin cảm ơn ông.

27 thg 7, 2012

KHÔNG AI "LỢI DỤNG LÒNG YÊU NƯỚC"!


Bùi Văn Bồng

Gần đây, khi nhân dân có sự biểu thị và tỏ rõ sự phản đối trước những hành động trắng trợn của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền thiêng liêng trên vùng biển-đảo của Tổ quốc, lãnh đạo của thành phố và một số phương tiện truyền thông Hà Nội lu loa lên rằng có sự “Lợi dụng lòng yêu nước, có sự tiếp tay, kích động của các thế lực thù địch”(?!). Chưa nói đến động cơ gì thôi thúc, đó là nhận thức đầy chủ quan và áp đặt, phát ngôn tùy tiện, thiếu căn cứ, gây dị nghị cho dư luận xã hội, gây dị ứng và lo ngại cho trình độ "quan trí". làm lãnh đạo, khi thấy dân phản ứng điều gì khác thường, thì trước hết phải bình tĩnh xem xét, nhìn nhận xem quan điểm, vai trò lãnh đạo, cung cách, biện pháp có gì sai, không nên vội vàng phản ứng chủ quan và tậm chí "chụp mũ". Làm như thế là sai với phương pháp cách mạng, sai quan điểm quần chúng của Đảng….

Hãy thật sự bình tĩnh xem xét, không ai “lợi dụng lòng yêu nước”, vì hai lẽ: Thứ nhất, biết bao máu xương của nhiều thế hệ đã đổ xuống mà cho đến nay đất nước vẫn chưa sạch bóng quân xâm lược, nguy cơ bị mất nền độc lập dân tộc đe dọa thường trực, nhân dân không thể yên lòng trước thế lực bên ngoài liên tục gây hấn, lăm le và bộc lộ rõ mưu đồ chờ thời cơ xâm lược bất kỳ lúc nào. Sự biểu hiện không yên lòng đó chính là lòng yêu nước. Thứ hai, là những tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quyền dân chủ nghiêm trọng và tràn lan, sự suy thoái mất phẩm chất của "một bộ phận không nhỏ có chức có quyền" đang có nguy cơ phá ruỗng xã hội từ bên trong, kìm hãm công cuộc đổi mới đất nước.

Cả hai sự lo lắng, bất bình đó chính là sự thể hiện lòng yêu nước chân chính. Lòng yêu nước không cho phép ai thỏa hiệp với những sai lầm, những nguy cơ bất ổn nêu trên. Trong mọi cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, sức mạnh toàn dân chính là sức mạnh của cả dân tộc. Không có sức mạnh toàn dân sẽ không giành được thắng lợi. Cho nên, khi đất nước có nguy cơ bị xâm lăng, và cả khi giặc xâm ngoại xâm đã ngang nhiên chiếm mất chủ quyền lãnh thổ, đe dọa trực tiếp đến cuocj sống bình yên của mỗi người, chỉ có nhân dân mới đánh đuổi được giặc ngoại xâm, chỉ có nhân dân mới làm lạnh mạnh hóa các mối quan hệ xã hội. Khi nội tình đất nước không yên, chỉ có nhân dân mới đủ sức mạnh để dẹp trừ kẻ tham lam độc ác, đem lại sự bình yêu, đem đến sự phát triển lành mạnh và bền vững.

Khi lãnh đạo biết nhận rõ sức mạnh vĩ đại của nhân dân, tôn trọng dân chủ, động viên toàn dân đánh giặc, khuyến khích người dân mạnh dạn đấu tranh chống những thói hư tật xấu, nhiệt tình tham gia xây dựng Đảng, chính quyền,  thì mới chiến thắng được thù trong, giặc ngoài. Vơ đũa cả nắm, cho rằng nhân dân đang nghe lời "thế lực thù địch", là coi thường nhân dân. Và như thế, đánh mất đi sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, có lợi cho kẻ thù mà nguy cơ mất nước ngày càng gia tăng mức độ nguy hiểm trầm trọng. Lòng yêu nước chân chính làm nên sức mạnh toàn dân tộc không dễ gì bị thế lực thù địch lợi dụng. Trong thể chế dân chủ XHCN, ai cố tình đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, phản dân, hại nước thì chính kẻ đó là "thế lực thù địch".
Những quan điểm, nhận thức tư tưởng sai lầm khi đánh giá về lòng dân, phân tuyến với nhân dân là sự thể hiện phi giai cấp vô sản, đi trật đường lối "cách mạng là sự nghiệp quần chúng" của Đảng.  Quan điểm sai, động cơ sai, dẫn đến phát ngôn và hành động sai. Nó thường xuất phát từ động cơ cá nhân, nói theo cấp trên để nịnh hót, bợ đỡ, chiều lòng, thậm chí a dua một bề, một sự ngu trung để lại những hệ lụy tai hại. Cũng có thể bị mắc mưu kẻ địch, mất cảnh giác do cạn suy, ngộ nhận, hoặc vì động cơ quyền lợi cá nhân ích kỷ nào đó. Cả hai biểu hiện duy ý chí và đầy chủ quan đó đều có sự xúi giục: Chính lương tâm xúi giục và kẻ khác xúi giục. Làm cách mạng mà sai từ quan điểm tư tưởng đến phương pháp thì cũng coi như phản cách mạng.

Từ thực trạng đó, suy ra, thế lực thù địch không đâu xa, mà ngay trong lòng người. Cái tâm không sáng, lòng không trong, tâm hồn bị thực dụng che khuất thì sinh ra ngu muội, thấp hèn và liều lĩnh. Khi ngu muội đã làm mất tỉnh táo thì ám muội xuất hiện sinh ra những phát ngôn, hành xử tùy tiện, thậm chí bất nhân. Cần phải thấy rằng, toàn dân đã bất bình lên cao độ vì đã đổ bao xương máu của nhiều thế hệ, nay đất nước vẫn chưa có hòa bình thực sự, cuộc sống vẫn còn nhiều biểu hiện trái với bản chất của chế độ xã hội "của dân, do dân, vì dân". 

Bên trong thì quan tham cấu kết lâu năm thành bè nhóm, phe phái, phân rã đoàn kết nội bộ lãnh đạo, kéo lùi sự phát triển đất nước, ngân khố quốc gia bị đục ruỗng do nạn tham nhũng tràn lan. Bên ngoài thì nguy cơ Tổ quốc bị xâm lăng đe dọa. Người dân yêu nước, và yêu chính cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập, sao lai có thể “mũ ni che tai" được? Phải hiểu rằng, những người không đi biểu tình không phải ai cũng phản đối biểu tình. Nhưng vì những cuộc ngăn chặn, bắt bớ của chính quyền và công an, vì tôn trọng sự kêu gọi, cẩn trọng vì sự đe nẹt, dọa dẫm, cũng chưa có "Luật biểu tình" một cách hợp pháp, họ chưa đi biểu tình. Không ít người cho rằng, "Thôi, họ đâu có hiểu dân, đâu có biết tôn trọng dân; ba mươi sáu chước, phòng thân cho được yên vẫn hơn”. Nhưng khi tình huống đất nước đến độ một mất một còn, làn sóng nhân dân sẽ dội lên như từng lớp sóng thần, lúc đó không có thế lực nào có thể ngăn được.

Vì thế, làm lãnh đạo, làm truyền thông phải hiểu được lòng dân. Dân ta ngày xưa chưa được nâng cao nền giáo dục, dân trí thấp, đã không dễ dàng bị “thế lực thù địch” xui khiến. Nay, trình độ dân trí đã được nâng cao, toàn cầu hóa đã đưa thông tin nóng hổi trên trái đất này đến từng người, “thế giới phẳng” đã giúp con người hiểu hết đúng-sai, phải-trái. Nếu lúc nào cũng ngăn chặn, che chắn, dùng chút quyền lực nhỏ hẹp của mình để chặn làn sóng nhân dân, chẳng khác nào đang tự dìm mình xuống đáy bùn.

Do sớm đánh giá đúng sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, hiểu rõ bản lĩnh, ý chí của người dân nước Việt, Chủ tịch Hồ Chí Mính đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước". 

Kẻ địch, nếu có, và đang rắp tâm chống phá chế độ này, đâu đến mức hết cách để phải “lợi dụng lòng yêu nước”, để rồi “thưa ông tôi ở bụi này”? Nghị quyết Trung ương 4, cũng như lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi tiếp xúc cử tri đều kêu gọi toàn dân tham gia việc nước trong lúc nhiều rối ren, yếu kém, toàn dân tham gia chỉnh đốn, xây dựng Đảng. Dân thì không thể "ra" được công văn, chỉ thị, chỉ biểu hiện bằng tiếng nói của quyền tự do dân chủ, trong đó có tham gia biểu tình, tuần hành. Nếu như nay Nhà nước đứng ra tổ chức cho cả nước biểu tình, tuần hành, sẽ có hàng triệu người hăng hái tham gia. Muốn dân không tự phát, thì chính quyền phải đứng ra tổ chức mítting, biểu tình, tuần hành để thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc.

Không ai “lợi dụng lòng yêu nước”, chỉ có nhân dân luôn luôn giữ vững truyền thống dân tộc và lòng yêu nước sẵn sàng cuồn cuộn dâng lên những lớp sóng nhấn chìm lũ quan tham làm tàn hại đất nước, lũ bán nước và cướp nước. Biểu tình, tuần hành là hoạt động đã đi vào truyền thống của dân ta. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta cũng phát động, kêu gọi nhân dân biểu tình, mít tinh, tuần hành, thị uy, bãi công, bãi chợ. Đó là một trong những phương pháp cách mạng, được coi là ‘mũi giáp công” cần thiết. Phản đối Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền dân tộc, đưa ra những yêu sách, kiến nghị một cách ôn hòa đòi công bằng, chống bất công, chống cường quyền để bảo vệ quyền làm chủ, tất cả đều vì “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”.

15 thg 7, 2012

Ý kiến chuyên gia về vấn đề các vụ cưỡng chế.



(Tamnhin.net) - Ngày 25/5/2012, Thủ tướng có yêu cầu lãnh đạo tỉnh Hưng yên giải trình, báo cáo lại cụ thể quá trình cưỡng chế đất đại tại Văn giang, trong đó có việc lực lượng cưỡng chế gây thương tích cho người dân và nhà báo. Với tinh thần hưởng ứng Nghị Quyết HN TƯ 3, 4, 5 K XI, xin có một số thông tin để góp phần làm rõ thêm Về vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang. Trên một số mặt chủ yếu sau đây. 

Cũng như vụ cưỡng chế tại Tiên lãng, vụ cưỡng chế tại Văn giang tiếp tục vi phạm điều 40 của Luật đất đai 2003 nhưng lại lộ ra là một hoạt động có tổ chức, với quy mô lớn hơn, có bài bản đầy đủ hơn, hình thành một dây chuyền bảo kê rộng để có thể thực hiện cưỡng chế với sự chống đối thấp hơn của dư luận xã hội. Thực trạng đó phản ánh quy mô và tác động rộng lớn của “nhóm lợi ích”, đồng thời phản ánh một thực tiễn phổ biến trên thế giới là “có sự móc nối giữa lực lượng maphia của thế giới ngầm với một số cán bộ có thế lực của hệ thống chính quyền. Tuy nhiên trong việc này, có một kẽ hở nhưng không rõ nhóm lợi ích đã bịt chưa? Luật có kẽ hở để nhóm lợi ích có thể lợi dụng là tại khoản 1, điều 40 của Luật đất đai 2003 có ghi là “dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ”. Do đó phải rà soát lại là Chính phủ đã ban hành quy định nào chưa và theo đó, có thể liệt Ecopark vào danh mục dự án đầu tư lớn không ? Nếu không có văn bản quy định theo chiều hướng này thì việc tỉnh Hưng yên cưỡng chế thu hồi đất để giao cho Vihajico là hoàn toàn sai điều 40, khoản 2 của Luật đất đai 2003.
Có hoạt động hạn chế, vô hiệu hóa vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua hoạt động hạn chế vai trò của các phóng viên. Tại vụ Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng mới khống chế được hoạt động tuyên giáo, báo chí, truyền thông trực thuộc TP, sử dụng lực lượng tại chỗ, bao gồm cả lực lượng xã hội đen, để khống chế, hạn chế hoạt động của phóng viên. Thế nhưng đến vụ Văn Giang thì vừa có sự hạn chế các phương tiện thông tin đưa tin, vừa có tình hình lực lượng cưỡng chế lại đi tới hành hung, bắt giữ phóng viên, tức sự khống chế lại phát triển lên mức cao hơn.
Việc khống chế hoạt động của phóng viên còn thể hiện trong vụ cản trở phóng viên đến thu thập thông tin tại địa điểm Biệt thự giá khủng của con Bí thư Hải dương. Nói chung, không thể coi nhẹ hoạt động của “nhóm lợi ích BĐS nói riêng và nhóm lợi ích nói chung” trên lĩnh vực khống chế các phương tiện truyền thông.
Đặc biệt là với vụ án trang trại Phường Đồng tâm, TP Vĩnh yên (Vĩnh phúc) núp danh lập trang trại để nuốt biến đất trang trại thành nền biệt thự để kinh doanh. Sau gần 1 năm điều tra, ngày 14/10/2011, công an tỉnh Vính phúc đã có kết luận và đến 12/2011 đã ra lệnh truy nã Nguyễn Anh Quân là chủ mưu, đã kịp trốn ra nước ngoài. Nhiều báo, trang mạng điện tử đã kịp thời phản ánh và cung cấp thông tin về vụ này và, qua đó, phát hiện những khuất tất trong quá trình điều tra, kết luận và khởi tố. Trong hoàn cảnh đó, một số người có hành vi tiêu cực liên quan đến quá trình này đã phản công lại bằng gửi đơn tố cáo  báo điện tử tamnhinnet lên nhiều cơ quan và lãnh đạo Nhà nước, trong đó có gửi lên cả tới Chủ tịch nước. Đồng thời Lãnh đạo Báo,,Ban biên tập và phóng viên báo điện tử tamnhin nét bị đe dọa, qua mạng. Qua đó thì có thể thấy lực lượng khống chế phóng viện đã phát triển lên trình độ cao có thể sử dụng hệ thống mạng, dùng cả đến cơ quan công quyền chứ không còn ở những người có trình độ thấp như tại vụ Tiên Lãng, Văn Giang. Mặt khác, đã có Công an đến trụ sở của tamnhinnet để theo dõi tình hình dân đến tố cáo.                    
Qua các sự kiện chủ yếu như đã nêu ở trên, có thể sơ bộ kết luận là:
Từ sau vụ cưỡng chế trái pháp Luật tại Tiên Lãng, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã có phản ứng tích cực thúc đẩy cưỡng chế tại nhiều nơi. Do thấy các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận không có phản ứng mạnh mẽ như đối với vụ Tiên Lãng nên, qua vụ cưỡng chế tại Văn Giang và qua việc các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh những khuất tất trong vụ xét xử vụ án trang trại phường Đồng Tâm, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã tích cực phản công, trước mắt là chĩa mũi nhọn vào giới phóng viên, báo chỉ để hạn chế thông tin đến với dư luận xã hội để họ dễ bề hành động. 
Tình hình chính quyền thiên về lợi ích của chủ đầu tư, không quan tâm đúng mức đến lợi ích của công nhân cũng đã mở rộng đến tình hình không qua tâm đúng mức đến lợi ích của nông dân. Xu thế này không thể coi thường.
Do đó, quá trình đấu tranh trên lĩnh vực này phải là cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự chỉ đạo khách quan của cơ quan có trách nhiệm thì mới có khả năng đối phó thành công trước sự phản công của các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS.
Quá trình từ dự án Ecopark đến cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang

Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) được thành lập vào ngày 19/8/2003 và đến khi dự án Ecopark được Chính phủ phê duyệt thì quá trình này có một số đặc điểm chủ yếu sau :
Dự án Ecopark sử dụng 500 ha, vốn đầu tư 3.989 tỷ nên là dự án thuộc nhóm A, phải do Chính phủ phê duyệt. Do đó UBND tỉnh Hưng Yên có trình xin sự phê duyệt của Chính phủ.
Vì là dự án đổi đất lấy công trình nên thủ tục xem xét phải theo Quyết định 22/2003/QĐ-BCT. Thực hiện chức năng thẩm định, Bộ KH&ĐT có công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT (18/6/2004) trong đó xác định “phương án đền bù giải phóng mặt bằng dự án chưa đảm bảo tính khả thi; hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư, khả năng tài chính cho việc thực hiện dự án… chưa đủ, vi phạm Thông tư 04/2003/TT-BKH của Bộ hướng dẫn thảm định dự án đầu tư”.
Ngày 28/6/2004, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng yên vẫn lập tờ trình 704/TT-UB gửi lên TTg xin cho thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư là Công ty đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng.
Ngày 30/6/2004, Chính phủ có Quyết định 742/QĐ-TTg cho phép thu hồi đất (tức 1 ngày trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực).
Dự án Ecopark đã được sự ủng hộ của một số tổ chức trong và ngoài nước sau đây:
- Năm 2012, dự án Ecopark đã được trao giải thưởng Bất động sản châu Á-TBD tại Malasia.
- Công ty bất động sản Sevills (chuyên kinh doanh văn phòng, nhà ở thuộc loại lớn nhất nước Anh) đã tham gia giai đoạn I của Ecopark và, vào năm 2009, đã ký thỏa thuận với Vihajico để được độc quyền bán nhà tại Ecopark. Theo thông cáo báo chí của Sevillis thì Sevills đã nghiên cứu thị trường VN từ 1995, có đặt trụ sở tại HN và TP HCM,  đã tuyển đến hơn 800 nhân viên.
- Bristish University Việt nam (thuộc London Univercity) vào tháng 11/2011 đã ký hợp đồng với Vihajico để xây dựng trường Đại học Anh quốc tại Ecopark.
- Cũng trong năm 2012, Ecopark còn được Hội Kiến trúc sư VN trao giải thưởng kiến trúc xanh.
- Dự án Ecopark cũng tranh thủ được sự đồng tình của Bộ Công an nên Bộ đã cử lực lượng trực thuộc Bộ tham gia vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang.
Sau khi xẩy ra vụ cưỡng chế tại Văn Giang,  GS Phạm quang Tuấn, công tác tại Úc, đã cùng 27 người khác ký tên vào một bức thư gửi lãnh đạo Đại học London (London University) đề nghị tác động đến lãnh đạo Bristish University Việt nam (thuộc London University) và lãnh đạo Công ty Sevills là hai tổ chức có liên quan đến dự án Ecopark để họ gây áp lực với chủ đầu tư Vihajico phải xin lỗi người dân và thực hiện đền bù thỏa đáng hơn. Viện phó Đại học London đã có thư trả lời GS Phạm quang Tuất cho biết sẽ nghiên cứu thêm về vấn đề này và thông báo là Bristish University Việt nam chưa phải là thành viên của Đại học London vì họ chỉ mới đang ký xin gia nhập Đại học London. (BBC Tiếng Việt, ngày 13/5/2012).
Theo Ông Bùi huy Thành, CVP UBND tỉnh Hưng Yên, trả lời phóng viên báo Tuổi trẻ, dự án khu đô thị-thương mại-du lịch Văn Giang (Ecopark) là một dự án đổi đất lấy công trình. Theo đó công trình mà tỉnh cần là tuyến đường từ chân cầu Thanh trì – Thành phố Hưng Yên, dài khoảng 22 km, trong đó có 5,3 km đi qua khu đô thị Ecopark. Để có được công trình đó, tỉnh chấp nhận đổi 500 ha đất cho Vihajico để xây dựng khu đô thị Ecopark. Do chủ đầu tư đã thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng tầng thuộc Huyện Văn Giang nên Tỉnh phải có trách nhiệm giao đủ đất thuộc dự án cho chủ đầu tư nên đã thực hiện việc cưỡng chế như đã triển khai.
Lực lưỡng cưỡng chế có quy mô lớn, có thể nói là chưa từng có. Tuy nhiên, thông tin đưa ra có những sai số cụ thể: (i) tin đưa về số lượng lực lượng cưỡng chế có tin là chỉ có 1.000 người nhưng cũng có tin đưa ra con số 3.000 người. (ii) tin đưa là lực lượng cưỡng chế chỉ sử dung 2 quả lựu đạn hơi cay để giải tán khoảng 300 người chống cưỡng chế. Nhưng lại có tin đưa ra là lực lượng cưỡng chế nổ súng bắn hơi cay mù mịt, có đánh đập người chống cưỡng chế. (iii) có tin 2 cảnh sát bị xây sát nhẹ vì trúng đá do người chống cưỡng chế ném nên đã phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Huyện. Ngoài ra còn khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để tạm giữ hơn 20 người dân.
Đại bộ phận những người bị cưỡng chế thu hồi đất là người dùng đất đó để sản xuất kinh doanh cây cảnh nên thu nhập cao, mức đền bù tuy đã được chủ đầu tư nâng lên nhưng không đủ bù đắp thiệt hại (Nhân dân 24/4/2012, trong bài “làm gì để bảo vệ 3,81 triệu ha đất trồng lúa” có đưa tin là trong năm 2009, thu nhập bình quân tính theo GDP/ha của đất trồng lúa là 9,1 triệu đồng trong khi đất kinh doanh phi nông nghiệp là 2,1 tỷ đồng, tức cao gấp 230 lần đất trồng lúa. Thông tin này cho thấy việc nông dân trồng cây cảnh không chấp nhận giá đền bù của chủ đầu tư là có căn cứ thực tế).
Trong quá trình thực hiện cưỡng chế, có hai phóng viên VOV của đài TNVN, Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long, được cử đi tìm hiều tình hình cưỡng chế tại Văn Giang vào ngày 24/4/2012 bị CA đánh và bắt đưa về Viện kiểm sát nhân dân Huyện Văn Giang.
Ngày 9/5/12, Hội Luật gia VN chính thức có công văn đề nghị Bộ CA, tỉnh ủy và UBND tỉnh Hưng yên làm rõ vụ nhà báo, luật gia Nguyễn ngọc Năm bị hành hung khi đang tác nghiệp tại Văn Giang.
Ngày 9/5/12, Ủy ban bảo vệ nhà báo, tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại New York đã lên án vụ hành hung 2 nhà báo tại Văn Giang.
Đài TNVN đã có công văn, ngày 9/5/2012 gửi Ban tuyên giáo TƯ, Bộ Thông tin truyền thông, Hội nhà báo VN và UBND tỉnh Hưng Yên yêu cầu làm rõ vấn đề. Chiều ngày 10/5/2012, Thiếu tướng Trần Huy Ngạn, GĐ CA Hưng Yên đã đến đài TNVN làm việc với lãnh đạo đài. Cùng tham dự có đại diện A87 (Bộ CA), VP đài TNVN, lãnh đạo trung tâm-tin đài TNVN và 2 nhà báo. Theo Ông Ngạn thì việc xẩy ra ngoài ý muốn của tỉnh. Tham gia cưỡng chế có CA của xã, huyện, tỉnh và một số CA của Bộ và dân phòng. Lãnh đạo đài TNVN khẳng định là Đài cử 2 phóng viên đi tác nghiệp tại đây và hoạt động theo đúng pháp luật. Do đó yêu cầu CA Hưng Yên nhanh chóng điều tra, xử lý nghiêm những người hành hung, bắt giữ 2 phóng viên của đại. Theo tin chính thức của VOV thì đã nhận được giấy mời của CA Hưng Yên, đến 16/5/2012 làm việc với tỉnh (gồm cả VP UBND tỉnh) để làm rõ vụ việc.
Liên chi hội nhà báo VOV có kiến nghị với Liên chi hội nhà báo VN, thông tin về vụ này và đề nghị có ý kiến. Ông Hà Minh Huệ, PCT Liên chi hội nhà báo VN cho biết vì mới nhân được thông tin một chiều nên chưa có thể nói quan điểm của mình, cần có thêm thông tin của phía tỉnh.
Chánh văn phòng UBND, Bùi huy Thành, tỉnh Hưng Yên yêu cầu làm rõ những căn cứ đánh hai nhà báo như đòi hỏi phải có bản gốc của video clip, chứng thực thương tích,…thì mới có thê có căn cứ kết luận. Cách đòi hỏi phải có chứng cứ cụ thể là đùng nhưng lại hạn chế vào những chứng cứ đó mà không đề cập đến những nhân chứng, vật chứng khác và bảo đảm cho các nhân chứng không bị chính quyền làm khó dễ. Do đó, trong chừng mực nhất định, yêu cầu của Ông Thành cũng thể hiện việc muốn áp đặt quan điểm của chính quyền. Clip các lực lượng cưỡng chế đánh người là rõ và có thể xác định những người thuộc lực lượng bảo vệ đánh người là ai, từ đó, làm rõ những chứng cứ cụ thể. Dù người bị đánh không phải là nhà báo thì đấy cũng là hành vi phạm pháp. Đánh nhà báo cũng là hành vi phạm pháp theo tội danh “chống người thi hành công vụ” là 2 nhà báo đó.
Tại Hội nghị trực tuyến về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo do TTg chủ trì ngày 2/5, có mặt lãnh đạo của 63 tỉnh, thành, Bộ, ngành. Theo yêu cầu của PTTg Nguyễn Xuân Phúc, Phó CT UBND tỉnh Hưng Yên, Nguyến khắc Hào, báo cáo là việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang là theo đúng Luật đất đai. Sau 8 năm từ khi có quyết định thu hồi đất, tỉnh vẫn chưa hoàn thành việc giao đất cho chủ đầu tư do dân khiếu kiện liên tục….. Do đó tỉnh phải thực hiện việc cưỡng chế. Cho là trong vụ việc này, có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước, dựng video clip giả về việc lực lưỡng cưỡng chế đàn áp dân. Các phương tiện thông tin đại chúng nói ít trong khi phía bên kia phản ứng nhanh, đưa tin liên tục.
Trước ngày cưỡng chế, dân đã dựng lều, tụ tập để chống đối và CVP UBND tỉnh  Bùi Văn Thành đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại nơi cưỡng chế để “đảm bảo an toàn tuyệt đối”
Một số nhận xét về quá trình trên.

Cho tới nay, chỉ mới có báo Người cao tuổi, ngày 24/4/2012 lên tiếng xác định cưỡng chế tại Văn Giang là sai luật đất đai.
Theo Luật đất đai 2003, điều 40, khoản 1 về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế thì dự án Ecopark không thuộc phạm vi thu hồi đất để phát triển kinh tế mà là dự án sản xuất kinh doanh nên thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản 2 “Đối với dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Do đó quyết định cưỡng chế thu hồi đất của tỉnh là trái Luật đất đai 2003. Đặc biệt lưu ý là lãnh đạo tỉnh Hưng Yên cũng làm theo TP Hải Phòng trong vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng là vận dụng Luật đất đai 1993 để biện minh cho việc cưỡng chế thu hồi đất. Theo điều 145 của Luật đất đai 2003 thì Luật đất đai 2003 thay thế Luật đất đai 1993 và Luật bổ sung một số điều được ban hành vào các năm 1998 và 2001. Vì thế nên lãnh đạo tình Hưng Yên không thể dựa vào các điều khoản của Luật đất đai trước đó để biện minh cho quyết định của mình là đúng luật, coi dự án Ecopark thuộc diện đề án có thể thi hành cưỡng chế theo điều 40, khoản 1 của Luật đất đai.
            - Dự án Ecopark là dự án đổi đất lấy công trình. Chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) chứ không phải chủ đầu tư là UBND tỉnh Hưng yên. Do đó, đây là dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Theo điều 40, khoản 2 của Luật đất đai thì nhà đầu tư phải tiến hành thương thảo với người đang sử dụng đất và chính quyền chỉ có thể đứng làm trung gian chứ không có quyền thu hồi đất cho nhà đầu tư.
Về nội dung của dự án Ecopark. Tổng diện tích đất giao cho dự án Ecopark là 500 ha và được sử dụng như sau:
            - 33,85% diện tích dùng để xây nhà ở.
            - 22,28% diện tích được dùng phục vụ thương mại.
            - 21,86% diện tích dùng để trồng cây xanh và mặt nước (phục vụ du lịch sinh thái).
            - 17,13% diện tích phục vụ giao thông.
            - 4,88% diện tích phục vụ quản lý công cộng của Ecopark.
Với cơ cấu sử dụng đất như vậy dự án Ecopark thực chất là dự án sản xuất kinh doanh (đầu tư xây dựng khu đô thị-thương mại-du lịch), thuộc phạm vi điều chỉnh của điều 40, khoản 2 của Luật đất đai 2003. Toàn bộ vốn đầu tư là thuộc Vihajico chứ không thuộc vốn từ NS của UBND tỉnh Hưng Yên. Nếu Vihajico chấp nhận đầu tư xây dựng đường giao thông từ Hà Nội về Hưng Yên để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của tỉnh, theo tinh thần đổi đất lấy công trình thì, so với tổng mức đầu tư mà Vihajico bỏ ra, kinh phí đầu tư đó không lớn. Mặt khác, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đó còn có tác động đến khía cạnh tạo điều kiện thuận lợi để khai thác Ecopark vì nếu không có giao thông thuận lợi đưa khách đến Ecopark thì Ecopark sẽ không có đầu ra và, do đó, không thể đảm bảo hiệu quả mong đợi. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nằm trong quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông của Tỉnh và, về cơ bản, vốn đầu tư thuộc về ngân sách. Trong trường hợp này thì  UBND tỉnh có thể sử dụng phương thức cho Vihajico thuê một diện tích nào đó trong quỹ đất mầu mỡ của nông dân để giao cho Vihajico, qua đó thu về số tiền cần thiết để đầu tư xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh trì đến TP Hưng Yên.
Từ đó, có thể nói là UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang vừa sai luật đất đai 2003, vừa phục vụ cho lợi ích của chủ đầu tư là chủ yếu chứ không phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh (và phục vụ đời sống nhân dân Văn Giang) là chủ yếu vì công trình được dùng để cho Vihajico đổi lấy đất, về thực chất, còn để đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án Ecopark. Do đó đã buộc nông dân phải chấp nhận giá đền bù quá thấp do Vihajico đưa ra, so với phần lợi nhuận mà Vihajico thu được từ dự án. Để đánh giá đúng mức hơn sai lầm của vụ cưỡng chế tại Văn Giang của UBND tỉnh Hưng yên, cần đối chiếu với vụ thỏa thuận thu hồi đất tại ngã ba Tràng tiền-Hai Bà Trưng, đối diện với Trung tâm thương mại Tràng Tiền. Sự việc như sau:
Công ty cổ phần Thời đại mới T&T là chủ đầu tư của dự án thành lập Trung tâm Thương mại - Văn phòng cho thuê trên mảnh đất này.
Công ty phải thương lượng với người đang sử dụng căn nhà đó để xác định giá đền bù. Suốt thời gian dài hai bên không đi được đến thỏa thuận vì không thống nhất được giá đền bù nên không thực hiện được việc giải tỏa địa bàn để Công ty thực hiện đề án đầu tư của mình.
Trong trường hợp đó, lãnh đạo TP HN phải vào cuộc và cuối cùng hai bên đã thống nhất được giá đền bù là 500 triệu đồng/m2. Đấy là giá cao kỷ lục, vượt xa khung giá của TP đã ban hành. Như vậy không có chuyện UBND TP Hà nội cưỡng chế người dân phải nhận mức đền bù do Công ty đưa ra và cũng không cưỡng chế thu hồi đất tức đã thực hiện đúng điều 40, khoản 2 của Luật đất đai.
Trong khi đó thì tại Văn Giang, tuy UBND tỉnh Hưng Yên có tham gia vào quá trình thương thảo giá đền bù giữa hai bên nhưng người dân vẫn không chấp nhận giá do chủ đầu tư và UBND tỉnh thống nhất đưa ra vì quá thấp so với nguồn lợi mà người dân thu được từ sản xuất kinh doanh cây cảnh. Trong trường hợp này, UBND tỉnh Hưng Yên đã không tiếp tục làm theo đúng luật và tiền lệ đã hình thành tại Hà nội nên đã thực hiện cưỡng chế người dân trên hai bình diện chủ yếu : (i) Buộc người dân phải chấp nhận giá đền bù được chủ đầu tư và UBND đơn phương thống nhất. Qua đó, UBND đã đứng ra bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, không tôn trọng quyền lợi của người dân. (ii) Thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư nên đã vi phạm điều 40, khoản 2 của Luật đất đai.
Phải chăng từ đó, có thể kết luận là UBND tỉnh Hưng Yên vừa làm sai luật, vừa đứng về phía bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, coi thường quyến lợi hợp pháp của người dân, không thể hiện đúng nhiệm vụ là đại diện của nhân dân, phục vụ nhân dân.
Qua vụ hành hung, bắt giữ 2 nhà báo, lộ ra thông tin chính thức là có cả lực lượng của Bộ CA tham gia vào cưỡng chế. Thực tế đó cho thấy việc UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện việc cưỡng chế đã được sự đồng tình của cơ quan cấp TƯ, tổi thiểu là của Bộ CA. Trước đây, trong trường hợp vụ Tiên Lãng, Trung Tướng Phạm quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ CA được cử tham gia vào vụ xét sử cưỡng chế tại Tiên Lãng, sau một đêm xem xét lại hồ sơ, đã tự điều chỉnh nhận thức, công nhận là cưỡng chế sai Luật để báo cáo với TTg. Đối với trường hợp cưỡng chế tại Văn Giang, lãnh đạo Bộ CA có xem xét sự kiện một các nghiêm túc, như Trung tướng Phạm Quý Ngọ, trước khi có quyết định ủng hộ tỉnh Hưng yên trong cưỡng chế tại Văn Giang không?
Quy mô của vụ cưỡng chế tại Văn Giang lớn gấp nhiều lần (có thể cả trăm lần) so với quy mô cưỡng chế tại Tiên Lãng. Thế nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin báo chí có thái độ ứng xử khác biệt. Tại vụ Tiên Lãng, các phương tiện truyền thông và tuyên giáo của TP và Huyện đều ủng hộ việc cưỡng chế thu hồi đất nhưng dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đều lên tiếng phản đối một cách mạnh mẽ vả rộng rãi. Tại vụ Văn Giang, dường như dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng không có phản ứng gì rõ rệt và mạnh mẽ như tại vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng. Tại sao có sự khác biệt đó? Phải chăng là từ sau vụ Tiên Lãng đến vụ Văn Giang, đã có những vụ cưỡng chế từ Bắc Giang đến Vụ bản nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng hầu như không lên tiếng như đối với vụ Tiên Lãng nên đã tạo cơ hội để thực hiện tiếp vụ cưỡng chế tại Văn Giang với quy mô lớn hơn?
Về việc PCT UBND tỉnh Hưng Yên đánh giá là có sự móc nối giữa các thế lực chống đối trong và ngoài nước để gây ảnh hưởng xấu đối với chính quyền thì cần lưu ý là tuy không có lệnh cấm phóng viên đến tác nghiệp trong vụ cưỡng chế tại Văn Giang nhưng CVP UBND tỉnh, Ông Bùi Văn Thành “đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại đây với lý do đảm bảo an toàn cho phóng viên”. Thế nhưng thực tế lại cho thấy sự uy hiếp an toàn của phóng viên lại từ lực lượng cưỡng chế trong khi người dân chống cưỡng chế lại bảo vệ phóng viên.
Nhìn chung, không thấy có bằng chứng nào thể hiện vai trò của các thế lực chống đối trong và ngoài nước đứng ra tổ chức chống cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang, tuy chắc các thế lực đó lợi dụng vụ cưỡng chế này để xuyên tạc thêm. Trong thực tế, chỉ mớỉ có tác động từ bên ngoài là trí thức việt kiều, đấu tranh đòi hỏi các đối tác nước ngoài của Vihajico phải tác động trở lại với Vihajico chứ không phải kích động người dân đứng lên chống việc UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế tại Văn Giang. Nhưng lại có biểu hiện rõ ràng là trong thực tế, Vihajico còn tranh thủ (lobby) được ba tổ chức nước ngoài như đã nêu ở trên. Ngoài ra Vihajico còn tranh thủ được sự ủng hộ trong nước từ Hội kiến trúc sư VN và sự đồng tình của Bộ Công an để Bộ cử người tham gia cưỡng chế. Phải chăng Công ty đầu tư phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) đã có hoạt động lobby trong và ngoài nước để ủng hộ đề án Ecopark ? Hoạt động lobby này có dừng lại ở các đối tượng trên không ? Phải chăng việc tranh thủ đó đã củng cố thêm quyết tâm của UBND tỉnh Hưng Yên để triển khai việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang ?

N.Lang

Theo Tạp chí Mặt trận Tổ Quốc số 105 tháng 7