6 thg 12, 2010

Nguyên Chủ tịch Quốc hội bàn về phương thức cầm quyền của Đảng

Nguyên Chủ tịch Quốc hội bàn về phương thức cầm quyền của Đảng

1 thg 12, 2010

Đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô


Theo Viet-studies 
Nguyễn Đình Chú

Tác giả Nguyễn Đình Chú
(minh họa chân dung: SGTT).
Nội dung tư duy cần đổi mới ở cấp độ vĩ mô bao trùm toàn bộ sự sống của đất nước, cho hôm nay và mai sau, phải dựa theo quy luật phát triển tư duy để phát triển cuộc sống của lịch sử nhân loại nói chung. Trong thực tế, những nội dung tư duy cần được đổi mới này cũng chính là những điều mà đất nước chưa có, hoặc có nhưng chưa tới độ cần thiết cho sự phát triển đất nước hôm nay và mai sau. 
 
Và từ chỗ chưa có, hoặc có nhưng còn thấp đến chỗ có cho ra có hoàn toàn không đơn giản. Vấn đề là phải nhận chân được điều cần có để tìm mọi cách phát động dân tộc, trước hết là ở tầng lớp lãnh đạo quốc gia, đặc biệt tầng lớp trí thức phải đi đầu trong công cuộc khai mở, xây dựng cho đất nước có được những phẩm chất tư duy cần có đó.

Với quan niệm như trên, tôi xin đề xuất mấy vấn đề sau đây:

1. Phát triển tư duy trừu tượng khoa học


Trong tư duy của loài người, có hai kiểu, hai phương thức tư duy tiêu biểu: tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể. Năng lực tư duy trừu tượng khoa học là năng lực nhận thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn với nó là nhận thức về mối quan hệ vốn dĩ là trừu tượng và cũng rất phức tạp, chằng chịt của các hiện tượng. Trong khi năng lực tư duy cụ thể thì kết quả nhận thức sự vật chủ yếu ngừng ở hiện tượng cụ thể nếu có nhận thức được quan hệ giữa các hiện tượng thì cũng chỉ ở mức đơn giản, thô sơ.

Trong năng lực tư duy trừu tượng lại có hai trạng thái: Một thứ trừu tượng từng được mệnh danh là trừu tượng khoa học bởi lẽ nó xuất phát từ hiện thực khách quan của sự sống. Một thứ trừu tượng được mệnh danh là tư biện (spéculatif) là thứ trừu tượng đơn thuần không dựa trên thực tế khách quan. Dĩ nhiên, điều cần phát triển là tư duy trừu tượng khoa học. Ngược lại, với trừu tượng tư biện thì cần loại bỏ.

Có thể nói được rằng: Người Việt Nam ta giàu về tư duy cụ thể mà nghèo về tư duy trừu tượng. Cứ nhìn vào kho từ vựng tiếng Việt thì thấy rõ điều đó. Từ cụ thể thì phong phú vô cùng. Còn từ trừu tượng thì nghèo và chủ yếu là ngoại nhập. Với ta, cùng một động tác di chuyển một vật thể đến một chỗ khác thì có không biết bao nhiêu là từ: mang, xách, ẵm, gồng, gánh, bê, bưng… trong khi với ngôn ngữ Pháp chẳng hạn một từ “porter”là đủ.

Ở ta, không có truyền thống tư duy trừu tượng là do kinh tế Việt Nam xưa là kinh tế nông nghiệp. Tuy dã có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển như ở các nước đã phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế hàng hoá là cơ sở phát triển tư duy trừu tượng. “Hàng hoá” là biểu tượng có khả năng trừu tượng hoá mọi vật thể, kể cả lương tâm. Điều đáng nói là ở ta do không có truyền thống tư duy trừu tượng nên về cơ bản cũng không có truyền thống khoa học, và cũng có thể nói là không có triết học. Vì không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên hễ có ai nói giọng trừu tượng thì thường bị coi là tư biện cả.

Ngày nay, trên đã phát triển, đặc biệt là trong tình hình giao lưu quốc tế được tăng lên gấp bội, thì khả năng tư duy trừu tượng của người Việt ta có được nâng cao, tăng trưởng nhưng so với yêu cầu vẫn bất cập, so với thế giới đó đây vẫn thua kém. Với người Việt Nam giỏi toán thì trong lao động toán học đã tỏ ra có năng lực tư duy trừu tượng rất cao. Nhưng rời toán học, về lại đời thường, vẫn là thuộc tình trạng chung của đất nước.

Sự yếu kém về tư duy trừu tượng khoa học đã kéo theo một loạt sự yếu kém đối với các hình thái thao tác tư duy khác như: tư duy hệ thống, tư duy tích hợp, tư duy so sánh, tư duy lựa chọn, tư duy quy luật, tư duy sáng tạo nói chung. Cứ nhìn vào tình trạng chung quanh vấn đề an toàn thực phẩm mà việc qui trách nhiệm không biết thuộc về bộ nào: Nông nghiệp? Y tế? Thương mại…? Cứ nhìn vào chuyện phát triển xây dựng nhà cửa, đường sá lộn xộn ở Hà Nội để gây ra tình trạng ngập lụt, ách tắc giao thông. Cứ nhìn vào tình trạng ngành giáo dục trong công cuộc cải cách giáo dục, chăm lo cải tiến sách giáo khoa mà thiếu sự quan tâm xây dựng phòng thực hành để rồi sách mới ra nhưng không có điều kiện thí nghiệm. Cứ nhìn vào việc tha hồ cho xây dựng xưởng máy này nọ mà quên mất khâu bảo vệ môi trường để rồi xảy ra các sự cố như công ty Vedan xả nước bẩn làm hại môi trường sống của nhân dân trên sông Đồng Nai. Đúng là cứ nhìn… cứ nhìn… đâu cũng thấy có chuyện khập khễnh, gây bất lợi cho cuộc sống đất nước nhãn tiền đủ biết là sự thiếu tư duy hệ thống, tư duy tích hợp… đã gây tác hại biết chừng nào. Ngay trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. Cứ chăm chăm vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ mà quên chăm lo năng lực tư duy trừu tượng thì có chuyện gặp đâu nói đấy, có chuyện thầy bói sờ voi cũng không phải là hiếm.

2. Phát triển tư duy triết học

Tạm hiểu tư duy triết học là tư duy có khả năng nhận thức, phát hiện những quy luật của cuộc sống và cũng là năng lực nhận thức sự sống con người ở độ sâu sắc nhất, tinh diệu nhất, kể cả sự bí ẩn. Quả là Việt Nam ta, chưa có truyền thống tư duy trừu tượng khoa học do đó cũng chưa có truyền thống tư duy triết học.

Thông thường, trước những vấn đề của cuộc sống vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, là vô cùng phức tạp, khả năng nhận thức của chúng ta vẫn chủ yếu ngừng ở trình độ nhận thức xã hội học thường là chỉ ở phạm vi bề ngoài của sự sống. Cũng do thiếu năng lực tư duy triết học nên đã có sự ngự trị của tư duy chính trị một cách không bình thường và không lợi cho sự phát triển đất nước.

Hẳn là ở ta, hiện đã có viện triết học, có một số giáo sư, phó giáo sư triết học. Nhưng liệu như thế đã có thể nói là có triết học được chưa? Xin mượn lời Giáo sư Trần Văn Giàu, vốn được dư luận coi là vị giáo sư triết học sáng giá nhất dưới chính thể CHXNCN Việt Nam, đã nói trong bài viết về Giáo sư Trần Đức Thảo rằng: trên đất nước ta, nếu có một người xứng đáng là triết gia thì không ai khác là Trần Đức Thảo. Giàu này chỉ là một giáo sự dạy triết học. Quả là một sự tỉnh táo, trung thực. Bởi lẽ triết gia thì phải tạo ra triết thuyết riêng. Chứ đâu như giáo sư triết học chỉ là người đọc sách triết của người khác rồi truyền đạt lại cho học trò.

Đất nước chẳng phải ngày nay không có triết gia mà trong quá khứ cũng đâu đã có. Hạn chế của văn hoá Việt Nam là thế. Vì thiếu một năng lực tư duy triết học, nên ngay ở việc tiếp nhận triết học của thế giới vào nước mình cũng thiếu bản lĩnh. Đáng nói nhất là vì không có tư duy triết học, nên có bao nhiêu quy luật của cuộc sống đang diễn ra một cách rõ mồn một, mà không thấy giới khoa học xã hội Việt Nam, các vị tự nhận là nhà nghiên cứu triết học, nói đến. Ví như các quy luật: về sự đối trọng, về cạnh tranh sinh tồn, về sự trỗi dậy của cái tôi cá thể, vệ sự trỗi dậy của đời sống tâm linh, về quy luật “Sự văn minh tiến hoá bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hoá bấy nhiêu”, quy luật về sự khập khiễng, không tương đồng giữa giàu có và đạo lý…

Nói riêng trong lãnh vực nghiên cứu văn học của chúng tôi, mà chủ yếu là thuộc khả năng nhận thức về thế giới con người, sự sống con người vốn dĩ rất phức tạp, rất kỳ diệu, kể cả sự bí ẩn, bí hiểm thì cũng dễ thấy sự hạn chế không nhỏ do thiếu tư duy triết học.

Một ví dụ “Chuyện người con gái Nam Xương” trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ mà từ trước tới nay, sách giáo khoa vẫn theo lối nhìn xã hội học giản đơn để cho rằng cuộc đời Vũ Nương tan nát đến phải tự vẫn là do chế độ nam nữ bất bình đẳng và chiến tranh. Trong khi, nếu nhìn theo triết học thì chẳng phải thế. Bởi lẽ, nam nữ có bình đẳng đến đâu, Trương Sinh không đi trận mà đi xa với bất cứ trạng thái nào, về nhà, con không nhận cha, lại bảo cha là người khác thì chuyện Trương Sinh đánh ghen vẫn xảy ra và chuyện Vũ Nương uất quá đến tự vẫn, là chuyện dễ có, dể hiểu.

Với cách nhìn triết học, sẽ thấy ở chuyện “Người con gái Nam Xương” chính là chuyện về cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc đàn bà, trước sự trớ trêu, sự bất trắc không ai có thể lường trước được mà cuộc đời phải tan nát. Con hỏi mẹ bố đâu? Mẹ chỉ vào bóng mình trên vách bảo là cha đó. Đó không phải là sự đồng nhất tuyệt đối trong tình vợ chồng sao? Nhưng trời ôi, sự tan vỡ đời Vũ Nương, oái ăm thay, bắt đầu lại chính từ gắn bó đồng nhất đó với chồng. Giả sử, khi con hỏi bố đâu, Vũ Nương nói cha đi trận, thì đâu đến phải tan nát cuộc đời. Rồi nữa, tham gia vào phá nát cuộc đời Vũ Nương, không ai khác lại chính bé Đản do nàng đứt ruột đẻ ra, mà nó thì trong trắng, ngây thơ nhưng trong trường hợp này lại trở thành tác nhân trực tiếp phá nát đời mẹ nó. Trớ trêu, oái ăm trong sự sống con người mà liên quan đến hạnh phúc Vũ Nương là ma quái thế đó. Rồi nữa, còn là cái máu ghen mà tạo hoá cũng đã trớ trêu một lúc ban cho các cặp vợ chồng, các cặp trai gái tình yêu nồng thắm ngây ngất mãnh liệt thế kia nhưng cũng ban nốt cho họ cái máu ghen để rồi như một quả mìn đặt sẵn dưới giường hạnh phúc gái trai và nổ lúc nào không biết.

Đúng là đất nước trên đường đi lên phải làm sao có được năng lực nhận thức sự sống bằng triết học để từ đó có cách xử sự trong cuộc sống vững chắc hơn. Lấy thêm một ví dụ cho điều đang muốn nói ở đây. Đó là nếu có được nhận thức triết học về quy luật đối trọng mà học thuyết âm dương trong Kinh Dịch đã gợi mở để áp dụng vào việc xây dựng cuộc sống, điều hành đất nước, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều so với những gì đang là hiện thực trước mắt. Vào những ngày đầu đổi mới, trên báo chí đã thấy xuất hiện ý tưởng đó mà tiếc rằng người đưa ra cũng chưa hiểu chắc vấn đề, rồi người phản đối lại cũng không hiểu vấn đề. Dĩ nhiên đây là chuyện không giản đơn chút nào. Mong có dịp khác sẽ nói rõ hơn.

3. Vấn đề tư duy cá thể


Chính đây là vấn đề cơ bản nhất, trọng tâm nhất mà công cuộc đổi mới tư duy của đất nước phải đặt ra để giải quyết và quyết tâm thực hiện theo yêu cầu phát triển vững chắc, bề thế, đích thực của đất nước, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài. Để có được điều này, trước hết phải có sự nhận thức trường minh và vấn đề con người – cá thể trong sự sống của loài người là gì? Một vấn đề của triết học mà tiếc rằng giới nghiên cứu triết nói riêng, giới khoa học xã hội nhân văn nói chung ở nước ta còn bỏ quên hoặc lảng tránh.

Chúng ta đều biết sở dĩ có loài người là do có những con người – cá thể (l’individu). Con người – cá thể là tế bào tạo nên cơ thể là các hình thái cộng đồng xã hội. Nó vừa là thực thể xã hội có quy luật sinh học tự thân, vừa là thực thể xã hội với hai thuộc tính: cá thể và cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, nó là một nhưng thành hai. Một thuộc bản chất nhân văn chân chính có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nên cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy càng mãnh liệt bao nhiêu càng tốt, càng có lợi cho đất nước, cho nhân quần bấy nhiêu. Một nữa thì ngược lại, phản nhân văn, nhân bản, huỷ hoại lợi ích của cộng đồng, nên tiêu diệt được nó sớm phút nào là xã hội, nhân dân được nhờ phút ấy. Ở đây quả là có hai thuật ngữ: con người – cá thể (l’individu) và chủ nghĩa cá nhân (l’ individualisme).

Tiếc rằng, ở ta, do thiếu tư duy triết học và cũng là thiếu óc duy lý, thiếu khả năng tư duy phân tách nên đã không tách bạch được hai phạm trù cá thể đó tuy xuất phát từ một nhưng đã thành hai ngả đối lập nhau như nước với lửa. Mà thực tế, tình hình nhận thức lại giường như chỉ ngừng ở ngả sau. Cho nên hễ nói đến con người – cá thể thì chỉ thấy đó là chủ nghĩa cá nhân mà thôi. Điều này, dĩ nhiên cũng liên quan đến một thực tế ở nước ta là nặng về tâm lý cộng đồng vốn là một nét đẹp, trong chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhưng ngay ở đó lại là có mặt trái của vấn đề là coi nhẹ, là không nhận thức đầy đủ và cần thiết về con người cá thể.

Chính đây là điều có sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, bởi phương Tây, nhờ có sự phát triển sớm nền kinh tế tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa nên cũng đã sớm phát hiện được con người cá thể và biết tận dụng nó để phát triển cuộc sống, đưa xứ sở lên cõi văn minh phi thường. Còn phương Đông chậm phát hiện cái tôi, cá thể xét đến cùng cũng là do trong quá khứ sống chủ yếu với nền kinh tế nông nghiệp dù ít nhiều cũng có kinh tế hàng hoá. Và điều đó, dĩ nhiên đã gây bất lợi cho phương Đông không ít. Những gì nói về con người – cá thể như trên quả là còn sơ sài nhưng thiết tưởng cũng đã đủ để nói về vấn đề tư duy – cá thể.

Không ai khác, chính Descartes, triết gia của Pháp ở thế kỷ XVII, là người đầu tiên phát hiện ra vấn đề này với mệnh đề “Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại” (Je pense donc je suis). Đúng thế, con người hơn muôn loài là nhờ ở tư duy như đã nói. Có tư duy mà không tư duy thì khác gì muôn loài. Tư duy cá thể là để tự tìm lấy chân lý, chứ không phải là để nghĩ lung tung bừa bãi. Hiện tình ở nước ta, không ít người vì không tường minh vấn đề nên hễ nói đến tư duy – cá thể là sợ có tình trạng bừa bãi, nghĩ và nói lung tung vô chính phủ. Chính đó là cản trở lớn trước yêu cầu đổi mới tư duy để có tư duy cá thể.

Tư duy – cá thể là vấn đề cơ bản nhất, trọng đại nhất của công cuộc đổi mới tư duy phải được đặt ra với toàn bộ đất nước, với mọi người dân. Nhưng thiết thực hơn thì trước hết là phải đặt ra với đội ngũ trí thức, nhất là trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Bởi đặc trưng bản chất của trí thức là hơn người về trí tuệ, có năng lực tư duy hơn ai hết. Do đó, trí thức phải được giải phóng khỏi tình trạng thụ động về tư duy để có được độc lập về tư duy, đặng có thể làm đầu tầu cho công cuộc đổi mới tư duy. Ở đây, rất cần được thiết chế hoá, chế tài hoá một cách chân chính cần cho sự đổi mới tư duy để có tư duy – cá thể.

Tiếp sau vấn đề với tri thức, là vấn đề đối với tuổi trẻ học đường mà hiện thời đã có mầm mống nhất định. Khẩu hiệu chống lại tình trạng nặng về thuyết giảng, thầy giảng, trò ghi, trò nhớ, trò nói lại như vẹt là điều đáng khuyến khích và phải có cách làm sao cơ bản hơn những gì đang có, cũng là chuyện vô cùng khó khăn. Các nhà lãnh đạo đất nước, lãnh đạo ngành giáo dục phải nhận thức được rằng: Nếu muốn có một cuộc cải cách giáo dục thực sự đích thực thì không thể không đặt lên hàng đầu vấn đề tư duy – cá thể. Có thể nói không sợ sai rằng: chừng nào vấn đề tư duy – cá thể chưa được giải quyết thì chừng đó nền giáo dục nước nhà vẫn là nền giáo dục lạc hậu. Rộng ra, cũng có thể nói, chừng nào vấn đề tư duy – cá thể với đất nước, chưa được giải quyết thấu đáo và thành hiện thực thì chừng ấy khả năng phát triển đất nước vẫn ỳ ạch, chậm chạp so với khu vực, với thế giới văn minh.

(Trích bài TRÍ THỨC VỚI VẤN ĐỀ TƯ DUY)

Tìm hiểu về Think Tank

Nguyễn Hải Hoành

Viện Brookings, Think Tank hàng đầu ở Mỹ.
Người ta cho rằng, tỷ lệ quyết sách sai lầm tại các nước phát triển ở phương Tây khá thấp, đó là do phương Tây tận dụng được các Think Tank, một loại hình tổ chức có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia. 
Think Tank là gì?

Think Tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao... , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp... có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.

Franklin Collbohm, sáng lập viên công ty RAND (Think Tank xếp hạng thứ 4 ở Mỹ, có 1600 nhân viên), định nghĩa Think Tank là “Nhà máy ý tưởng”, là trung tâm tư tưởng chiến lược dám thách thức và coi thường mọi uy quyền, dám vượt qua mọi trí tuệ hiện có.

Theo định nghĩa chặt chẽ thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.

Chức năng chính của Think Tank là: - đề xuất ý tưởng; - giáo dục, hướng dẫn dư luận; - tập hợp nhân tài.

Trong tiếng Anh Think là suy nghĩ, ý nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, Tank là cái thùng (bồn, vựa, chậu), còn có nghĩa là xe tăng. Trung Quốc dịch Think Tank là Túi tri thức (“trí nang đoàn”) hoặc Kho trí thức (“trí khố”). Ở ta có người dịch là “Kho Tư tưởng (Ý tưởng)”, “Kho Trí tuệ (Trí thức)”, “Vựa (Bồn) Trí tuệ”, “Nhóm chuyên viên (hoặc Tổ chức) tư vấn”... Nhận thấy tất cả các từ dịch kể trên đều chưa quen với bạn đọc và hơi dài, vả lại hiện chưa có một từ Việt tương đương được nhất trí thừa nhận, cho nên chúng tôi xin tạm dùng Think Tank như một danh từ tiếng Việt (viết hoa, không có số nhiều). Người Nhật cũng dùng nguyên từ Think Tank phiên âm ra tiếng Nhật.

Tình hình Think Tank trên thế giới

Think Tank xuất hiện ở phương Tây đã lâu, nhưng ở Việt Nam thì khái niệm này còn mới lạ, vì thế thiết nghĩ việc giới thiệu về Think Tank là cần thiết.

Theo một báo cáo công bố đầu năm 2009 của ĐH Pennsylvania, kết quả điều tra 169 nước trên thế giới năm 2008 có tổng cộng 5.465 Think Tank; trong đó Bắc Mỹ và Tây Âu có 3080 (chiếm 56,35%, riêng Bắc Mỹ có 1872), châu Á có 653 (11,95%), Đông Âu có 514, châu Mỹ La-tinh và vùng Caribe – 538, châu Phi vùng hạ Sahara – 424, Trung Đông và Bắc Phi – 218, châu Đại dương – 38.

Nước có nhiều Think Tank nhất là Mỹ – 1.777, rồi đến Anh – 253, Đức – 186. Tại châu Á, Ấn Độ có nhiều Think Tank nhất – 121, thứ nhì là Nhật – 105. Theo báo cáo trên, Trung Quốc hiện có 74 Think Tank theo nghĩa rộng; nhưng các học giả Trung Quốc đánh giá nước họ thực sự chưa có Think Tank đúng nghĩa.

Xếp hạng các Think Tank trên thế giới

Dưới đây là một số trích dẫn bảng xếp hạng các Think Tank toàn cầu [1]. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi để nguyên tên tiếng Anh không dịch.

Xếp hạng Top 10 Think Tank của Mỹ như sau:

1. Brookings Institution
2. Carnegie Endowment for International Peace
3. Rand Corporation
5. Heritage Foundation
6. Woodrow Wilson International Center for Scholars
7. Center for Strategic & International Studies
8. American Enterprise Institute
9. Cato Institute
10. Hoover Institution

Xếp hạng Top 10 Think Tank của các nước ngoài Mỹ như sau:

1. Chatham House (tức Royal Institute of International Affairs, thành lập năm 1920 tại Anh)
2. International Institute for Strategic Studies (Anh)
3. Stockholm International Peace Research Institute (Thụy Điển)
4. Overseas Development Institute (Anh)
5. Centre for European Policy Studies (Bỉ)
6. Transparency International (Đức)
7. German Council on Foreign Relations (Đức)
8. German Institute for International and Security Affairs (Đức)
9. French Institute of International Relations (Pháp)
10. Adam Smith Institute (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank của châu Á:

1. Chinese Academy of Social Sciences (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
2. Japan Institute of International Affairs (Nhật)
3. Institute for Defence Studies and Analyses (Ấn Độ)
4. Centre for Strategic and International Studies (Indonesia)
5. Institute for International Policy Studies (Nhật)
Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực an ninh và quan hệ quốc tế:
1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Chatham House (Anh)
3.    Carnegie Endowment for International Peace (Mỹ)
4.    Council on Foreign Relations (Mỹ)
5.    International Institute for Strategic Studies (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực phát triển quốc tế:


1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Overseas Development Institute (Anh)
3.    Council on Foreign Relations (Mỹ)
4.    Rand Corporation (Mỹ)
5.    Woodrow Wilson International Center for Scholars (Mỹ)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực chính sách kinh tế quốc tế:

1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Peterson Institute for International Economics (Mỹ)
3.    Fraser Institute (Canada)
4.    National Bureau of Economic Research (Mỹ)
5.    Adam Smith Institute (Anh)

Có thể thấy Viện Brookings đứng đầu cả 3 nhóm nói trên. Viện này thành lập năm 1916, có ngân sách năm 60,7 triệu USD, chuyên nghiên cứu về chính sách đối ngoại và vấn đề Trung Đông. Một số nhân vật tiêu biểu của Viện như Strobe Talbott (từng là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Kenneth Pollact, Alice Rivlin.

Think Tank có quy mô lớn nhất là Công ty Rand, với 1.600 nhân viên, ngân sách 251 triệu USD, chuyên nghiên cứu chiến lược quân sự, các vấn đề kinh tế chính trị. Một số nhân vật tiêu biểu của Rand là James Dobbins, Gregory Treverton, William Overholt.

Mỹ là nước có hệ thống Think Tank phát triển nhanh nhất thế giới, từ 1980 tới nay số Think Tank nước này tăng gấp đôi. Riêng tại Washington đã có trụ sở của khoảng 350 Think Tank, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác. Tại thủ đô Mỹ có một đường phố tập trung rất nhiều Think Tank. Từ thập niên 70 trở đi không chính khách nào có ý định làm chủ Nhà Trắng mà không nhờ vả một Think Tank làm tư vấn. Vì vậy sau khi tân Tổng thống nhậm chức, không ít cán bộ của Think Tank đó được giao các trọng trách trong chính phủ. Khi Tổng thống hết nhiệm kỳ, họ lại về Think Tank cũ làm việc. Vì thế các Think Tank nghiễm nhiên trở thành nơi tập hợp nhân tài, chính khách. Think Tank rất cần cộng tác viên và bạn đọc. Chẳng hạn nếu bạn vào website của Think Tank STRATFOR, họ sẽ liên tục gửi bài cho bạn. Người sáng lập và lãnh đạo STRATFOR là George Friedman mới đây đưa ra một dự báo thế giới thế kỷ XXI rất độc đáo (coi Nhật, chứ không phải Trung Quốc, là đối thủ số 1 của Mỹ ở châu Á...).

Tại sao cần Think Tank?

Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu của xã hội dân sự dẫn tới xu hướng “chính phủ nhỏ, xã hội lớn” dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả. Theo đà phát triển kinh tế và giáo dục, hệ thống doanh nghiệp, trường đại học và giới trí thức ngày càng lớn mạnh, trong xã hội tự xuất hiện nhiều cá nhân và đoàn thể có nguyện vọng cải tiến các quyết sách của đất nước.

Có người nói Công ty Đông Ấn [2] do người Hà Lan Cornelis de Houtman thành lập năm 1602 vừa là công ty xuyên quốc gia đầu tiên vừa là Think Tank đầu tiên trên thế giới nghiên cứu đưa ra phương thức độc quyền thương mại giúp Hà Lan khai thác hệ thống thuộc địa.

Từ sau Thế chiến II, giới trí thức phương Tây nhận thấy trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, mỗi quốc gia muốn tiến nhanh thì phải hết sức hạn chế các quyết sách sai lầm. Thế nhưng không chính phủ nào tránh được sai lầm trong khi đưa ra các quyết định chiến lược trên mọi lĩnh vực. Nguyên nhân gây ra sai lầm là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu-tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ nghe ngóng, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (tức Think Tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể.

Xã hội phương Tây từ rất sớm đã có nhiều cá nhân (điển hình là giáo sư các trường đại học) hoặc tổ chức, đoàn thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề chiến lược của nước mình hoặc thế giới; do độc lập với nhà nước nên họ có khả năng xem xét vấn đề một cách khách quan, toàn diện và đưa ra các giải pháp, chủ trương hợp lý. Chính vì thế, từ sau Thế chiến II, các Think Tank bắt đầu mọc lên như nấm ở phương Tây; trong thực tế các tổ chức này đã có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc ấn định các quyết sách của nhà nước hoặc chính đảng, của các ứng viên nghị sĩ quốc hội hoặc ứng viên Tổng thống. Do thấy được lợi ích to lớn của các tổ chức này nên chính phủ và doanh nghiệp, kể cả các đoàn thể xã hội và cá nhân đã ra sức khuyến khích thành lập và cung cấp kinh phí cho các Think Tank.

Nước Mỹ dựng nước mới hơn 200 năm đã trở thành cường quốc số một thế giới về mọi mặt, điều đó chứng tỏ họ rất ít mắc các sai lầm chiến lược lớn. Ở đây có một nguyên nhân là lãnh đạo nước này xưa nay bao giờ cũng chú ý lắng nghe ý kiến của dân, nhất là các nhà trí thức độc lập với chính phủ. Hệ thống Think Tank ở Mỹ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các chủ trương chiến lược lớn của nước này.

Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Học viện Quản lý công (thuộc trường ĐH Nhân dân Trung Quốc) nhận xét: tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, còn tại các nước phát triển ở phương Tây tỷ lệ này chỉ có khoảng 5%, đó là do phương Tây ra sức tận dụng các Think Tank.

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của Trung Quốc là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Thực tế cho thấy các chiến lược “Đại Nhảy Vọt”, “Công xã nhân dân” cuối thập niên 50 đã dẫn tới hậu quả nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, hàng chục triệu dân “chết không bình thường”, nói trắng ra là chết đói vì nông dân phải đi “luyện gang thép” và làm các “công trình hinh ảnh” mà bỏ mặc ruộng đồng không ai làm. Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ Nhân dân tệ.

Hầu hết các sai lầm đó là do lãnh đạo cao nhất gây ra. Họ xem xét mọi vấn đề theo cảm tính cá nhân, thích cái gì thì “quyết”, bản thân suy nghĩ trong vài ngày là xong, không giao cho một cơ quan tư vấn nào nghiên cứu, cũng không hỏi ý kiến các nhà chuyên môn, hoặc có hỏi nhưng giới chuyên môn sợ mất lòng cấp trên nên không dám nói thật. Điển hình nhất là “Thời gian biểu vượt Anh đuổi Mỹ” do Mao Trạch Đông đưa ra: ngày 15/4/1958 ông nói Trung Quốc cần “10 năm đuổi kịp Anh, 20 năm đuổi kịp Mỹ”; một tháng sau ông quyết định “7 năm đuổi kịp Anh, thêm 8~10 năm nữa đuổi kịp Mỹ”; ngày 22/6/1958 ông lại quyết: “2~3 năm đuổi kịp Anh”.

Từ ngày cải cách mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã hết sức quan tâm xây dựng các Think Tank và thường xuyên lắng nghe ý kiến của họ. Sự quan tâm đó thể hiện ở chỗ Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu 2009.

Việt Nam ta từng có một số quyết sách sai lầm trên một số mặt, nhưng đáng tiếc là vấn đề này chưa được cơ quan nào nghiên cứu, thống kê, phân tích và công bố, trong khi ta lại nói quá nhiều về những thành tựu. Cách làm này chỉ làm cùn trí tuệ của các nhà hoạch định chiến lược và lãng phí trí tuệ xã hội. Gần đây dư luận đã bắt đầu lên tiếng tuy còn dè dặt về một số chủ trương kinh tế đã hoặc sẽ gây thiệt hại. Cho dù ta còn chưa có Think Tank đúng nghĩa, nhưng thử hỏi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhà nước (các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học...) đã có vai trò gì trong việc đưa ra những quyết sách kinh tế lớn. Nếu biết tận dụng hệ thống cơ quan tư vấn và biết coi trọng xây dựng hệ thống Think Tank thì chắc chắn đã có thể tránh được nhiều sai lầm đáng tiếc.

Đầu thập niên 50 thế kỷ XX, trước khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, một Think Tank nổi tiếng ở Mỹ là Công ty RAND khi nghiên cứu vấn đề “Trung Quốc có thể đưa quân sang Triều Tiên hay không” đã đi tới kết luận Trung Quốc sẽ đưa quân sang giúp Triều Tiên chống Mỹ. RAND rao bán bản báo cáo nghiên cứu này cho Phòng Nghiên cứu chính sách Trung Quốc của chính phủ Mỹ với giá 2 triệu đô-la (bằng giá một máy bay chiến đấu hồi ấy), nhưng bị từ chối. Sau đấy quả nhiên Trung Quốc đưa Quân Chí nguyện sang Triều Tiên; phía Mỹ do không có chuẩn bị trước về vấn đề này nên bị thiệt hại lớn. Tư lệnh quân đội Mỹ trên chiến trường Triều Tiên là MacArthur lúc này mới thấy hối tiếc là đã bỏ mất một quyết sách quý giá được RAND nghiên cứu chu đáo, có cơ sở thực tế.
 

----

[1] Xem: Tạp chí Foreign Policy số tháng 1 và 2/2009 (bài của James McGann Phó Giám đốc Chương trình Quan hệ quốc tế ĐH Pennsylvania và Giám đốc Chương trình Think Tank và xã hội dân sự). Có tham khảo thêm: http://www.upenn.edu Penn Research Ranks World’s Best Think Tanks; http://www.foreignpolicy.com The Think Tank Index, và một số website khác.

[2] Dutch East India Company (tên đầy đủ Dutch United East India Com., tiếng Hà Lan Vereenig de Oostindische Compagnie, viết tắt VOC), lập 1602, giải tán 1799, là công ty tư nhân lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất thế giới đương thời.

23 thg 11, 2010

'Muốn hiện đại thì phải làm ngay đường sắt cao tốc

Vnexpress

Nói lại vụ đường sắt cao tốc sao thấy mắt cay cay. Rõ ràng một dự án kém hiệu quả là điều hiển nhiên mà sao lại nghiên cứu nghiên cò mãi nhĩ?

Thấy gì qua chất vấn quốc hội?

Hôm nay tôi phải gián đoạn giờ làm việc để nghe chấn vấn quốc hội trực tiếp. Quả thật rất thu vị nhưng khi nghe xong lại thấy một nỗi buồn sâu thẳm.

Nội dung trả lời chấn vấn với chất lượng khá thấp, thiếu thuyết phục. Đặc biệt ông đương kim BT BTC và Cựu BTC. Chưa một đồng chí nào thật sự nhận trách nhiệm về mình, sai rành rành ra đấy mà chối quanh chối co. Chất lượng câu hỏi của nhiều ĐB cũng rất thấp, hỏi những cái thiếu trọng tâm. Thiếu đi sự tranh luận để tìm ra giải pháp. 

18 thg 11, 2010

Lỡ tàu

 Tác giả: TBKTSG

Nóng lòng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển trước ta, có người hô "phải đi tắt, đón đầu" mà không vạch ra con đường để đi tắt. Đi tắt, đón đầu mà không có tri thức thì rất dễ sụp hố.

"Bây giờ chúng ta mong muốn anh (Ngô Bảo) Châu về nước làm việc. Tại sao những người như anh ấy phải quay về Việt Nam? Điều ấy được nói ra đã muộn mất 20 năm rồi. Nay Việt Nam không còn cơ hội dùng những người như vậy với tư cách các nhà khoa học nữa. Việt Nam đã lỡ con tàu đó rồi... Việt Nam đã mất ba thế hệ khoa học rồi".

Đó là những câu nói đượm buồn và đầy vẻ tiếc nuối cho chính đất nước chúng ta của Giáo sư Pierre Darriulat, một nhà vật lý hàng đầu quốc tế, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, người đã thành lập phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ đầu tiên của Việt Nam đặt tại Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân, đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ về vật lý tia vũ trụ, người - như chính ông tự nói về mình - "đã sống ở Việt Nam hơn mười năm và đang cống hiến phần còn lại của cuộc đời tôi cho Việt Nam" (trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ra ngày 12-9-2010).
Bernard Tan, giáo sư - tiến sĩ, Trưởng khoa Công nghệ thông tin Đại học Quốc gia Singapore (NUS), Chủ tịch Hội Quản trị hệ thống thông tin quốc tế, giảng dạy tại nhiều đại học danh tiếng thế giới, và là biên tập viên một số tạp chí có uy tín về khoa học thông tin và khoa học quản lý, khẳng định: "Hễ người giỏi là chúng tôi (NUS) tiếp nhận, mời gọi".

Ông cho hay: "Singapore không có tài nguyên, nên chính sách nhân lực là quan trọng nhất, là nguồn tài nguyên quý nhất. Ngay từ khi đất nước mới độc lập (1965), ưu tiên số một của chính phủ là làm cho mỗi người dân trở thành những công dân có khả năng cao hơn, giỏi hơn...

Với một nước nhỏ, dân số ít, phải kiên trì với chính sách này trong nhiều năm, Singapore mới có đủ nhân tài để phát triển như hôm nay... Mới đây, nhân Quốc khánh Singapore, chính phủ đã ban hành quyết định Phủ thủ tướng sẽ là cơ quan điều phối hai vấn đề: quản trị dân số và quản trị tài năng" (trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Tiếp Thị ra ngày 10-9-2010).
Tất cả những thông tin, ý kiến này thật ra không hoàn toàn mới. Nhiều người Việt Nam, nhà khoa học Việt Nam, cả các nhà lãnh đạo cũng biết và từng nói. Nhưng năm này qua năm khác, hết kế hoạch này đến kế hoạch khác, thế hệ này qua thế hệ khác, đất nước vẫn chưa thoát ra khỏi mớ bòng bong cải cách giáo dục, vẫn chưa có được một chiến lược đào tạo và sử dụng tài năng, hay nói như ông Bernard Tan, "quản trị tài năng".

Chúng ta nói rất hay khi mượn lại một câu của tiền nhân: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" và nói xong rồi thì chẳng có một kế hoạch thực hiện nào có hiệu quả cả. Nóng lòng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển trước ta, có người hô "phải đi tắt, đón đầu" mà không vạch ra con đường để đi tắt. Đi tắt, đón đầu mà không có tri thức thì rất dễ sụp hố. Như - chỉ để lấy ví dụ mới nhất - Vinashin muốn nhanh chóng phình to, trở thành tập đoàn đóng tàu có tên tuổi trong khi quản trị công ty kém cỏi, đã lâm cảnh phá sản và trở thành gánh nặng cho quốc gia, phải được Nhà nước giải cứu bằng tiền ngân sách.

 

Cho nên, từ muốn (ý chí chủ quan) đến biết (tri thức đúng, cần thiết) và hành động (có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ chứ không phải là hô khẩu hiệu) để phát triển đất nước là những chặng đường không thể tùy tiện bỏ qua, làm liều, đặc biệt là khâu biết. Mà muốn biết thì phải học, phải mời người giỏi dạy cho và phải trọng dụng người giỏi. 
Chân lý thật đơn giản như ông bà ta nói "muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy". Vậy mà trong thực tế, trong các nấc thang của bộ máy quản trị quốc gia, không phải bao giờ người ta cũng hành động như vậy. Nạn chạy chức chạy quyền, tay chân bè phái, đố kỵ và trù dập người tài, người cương trực là một bí mật mà ai cũng biết. Trong môi trường đó, liệu người tài và cương trực có thể tồn tại mà không đánh mất mình? Và ở phạm vi quốc gia, ai "quản trị các tài năng"?

"Việt Nam đã lỡ con tàu đó rồi", lời nhận xét của GS. Darriulat nghe sao mà nhức nhối. Điều gì đã khiến chúng ta lỡ con tàu phát triển khoa học, tri thức và sử dụng nhân tài để thu hẹp khoảng cách tụt hậu với các nước dù đất nước đã có 35 năm hòa bình, nguồn lực tăng gấp đôi (từ hai miền chia cắt thành một đất nước thống nhất)?

Đó là câu hỏi cần trả lời khi đất nước lại sắp sửa bước vào một chặng đường mới với bao kỳ vọng xen lẫn âu lo: làm thế nào để 20 năm sau chúng ta không còn phải nghe lại câu nói "các bạn đã lỡ con tàu đó rồi".

17 thg 11, 2010

Đe dọa hay tranh luận?

Nguyễn Quang A
image Xã hội vốn đa dạng, phức tạp, muôn màu muôn vẻ. Và ý kiến về xã hội, về điều hành xã hội cũng vậy. Người ta hay nói muốn phát triển cần sự đồng thuận. Thực ra, nếu luôn luôn có sự đồng thuận thì xã hội không thể phát triển được. Cho nên xin đừng lạm dụng “sự đồng thuận” để trấn áp hay đe dọa những người có ý kiến khác mình. Sự đồng thuận đạt được theo cách như vậy chỉ là “sự đồng thuận ép buộc” và vì thế là giả hiệu và vô cùng tai hại cho sự phát triển của đất nước.

Chúng ta ta quá quen với cảnh số phiếu cao ngất 100% hay hơn 90% tán thành (một chính sách ở Quốc hội, hay bầu cho một người trong các đợt bầu cử), rồi vài năm gần đây người cũng quen dần là không có sự thống nhất cao đến như vậy. Thí dụ, Luật Viên chức vừa được 79,72% phiếu thông qua tại Quốc hội; thậm chí Dự án đường sắt cao tốc đã không được Quốc hội thông qua ở phiên họp trước. Tại phiên họp này của Quốc hội, các vấn đề bauxite, Vinashin trở thành các vấn đề nóng và nhiều ý kiến phê phán cách điều hành của Chính phủ. Đấy là một hiện tượng đáng mừng trong hoạt động của Quốc hội. 

Không ai, hay không cơ quan nào, không mắc sai lầm cả. Cái khác nhau là ở chỗ có người, có cơ quan biết lắng nghe để sửa chữa, hay tranh luận lại một cách xây dựng với những người phê phán mình để cả hai cùng hiểu đúng hơn, cùng làm tốt hơn công việc của mình. Đấy là cách tạo “đồng thuận” tốt nhất, nếu cần đến đồng thuận; và cũng là một nội dung cốt yếu của dân chủ: tranh luận công khai, tôn trọng ý kiến thiểu số.
Ngày 14-11-2010 báo điện tử chính phủ có đăng hai bài về kỳ họp này của Quốc hội. 

Nhà báo Nguyễn Chính trong bài “Dân chủ phải đi đôi với trách nhiệm khi phát ngôn trước công chúng”, đã viết “đáng tiếc có một số đại biểu khi đưa ra những phát biểu mang nặng tính chủ quan và võ đoán của mình trên diễn đàn Quốc hội đã khiến các cử tri phải kinh ngạc vì ở đó không thể hiện một tinh thần khách quan, xây dựng; một sự hiểu biết thấu đáo vấn đề mình đề cập đến, mà chỉ cốt bày tỏ cho được thái độ chủ yếu phủ định đối với các nỗ lực tháo gỡ khó khăn của cơ quan hành pháp hay các nhân vật có trách nhiệm theo phân công công tác. Thậm chí có những ý kiến, được hình thành trên những thông tin không chuẩn xác, chung chung, mang nặng tính hình thức hoặc chưa được kiểm chứng, nên đã mang màu sắc dân túy, nói lấy được, chứ không nhằm mục đích cùng kiến tạo hiệu quả đích thực cho công việc chung. Có đại biểu, tuy là trí thức nhưng khi phát biểu công khai lại không dựa trên các luận chứng khoa học mà chủ yếu lại nương theo tâm lý của một bộ phận mang nặng ác cảm với thực tế khách quan, cố tình bỏ qua những mảng sáng trong bức tranh toàn cảnh, theo kiểu mà dân gian thường lên án gọi là “bới lông, tìm vết”....”

Còn TS Đinh Thế Cường trong bài “Trong thử thách, khó khăn, càng cần chung sức, chung lòng”, cũng theo cùng cách. Sau khi đưa ra một số lời khen, ông tiến sĩ viết, “tuy nhiên, thật đáng tiếc đã có hiện tượng một số đại biểu đã có biểu hiện như muốn lạm dụng diễn đàn, đưa ra những nhận định hay thông tin nhiều màu sắc chủ quan, cảm tính, còn chưa được kiểm chứng hoặc về những lĩnh vực không phải chuyên môn sâu của mình nên khó có thể phán định chuẩn xác, thậm chí cả những kiến nghị không mang tính xây dựng, gây nên những dư luận không tốt trong xã hội”. 

Bạn đọc tự đánh giá xem đấy là những phê phán mang tính xây dựng đối với các đại biểu Quốc hội hay là các lời “đe dọa” đối với họ. Phê phán mang tính xây dựng đáng được hoan nghênh, sự đe dọa phải bị lên án.
N. Q. A.

16 thg 11, 2010

Xin đừng hiểu sai từ phản biện

 Tác giả: Thạch Giản

Nếu tác giả của quyết sách sai lầm lại coi như không nghe thấy các ý kiến phản biện, hoặc chê đó là phản biện Chí Phèo, thì tư duy ấy còn thua xa tư duy đẽo cày giữa đường của bác nông dân kia.

>> Lại nói về "phong cách Chí Phèo" trong phản biện
>> Phong cách "Chí Phèo" và văn hoá phản biện

Một bên đẽo cày giữa đường, một bên...Chí Phèo?

Lẽ ra phản biện xã hội là chuyện bình thường, chẳng cần phải bàn cãi. Thế nhưng, có một vài chủ trương chính sách, dự án đầu tư lớn (sau đây gọi gộp là quyết sách) được quyết trong tình thế vẫn còn nhiều tranh cãi trong dư luận. Không ít người có ấn tượng dường như việc góp ý (phản biện) của dân lại chưa được xử lý thỏa đáng.

Trong bài viết "Phong cách Chí Phèo và văn hóa phản biện", dường như tác giả Phạm Hoài Huấn lí giải những rắc rối dạng ấy là do bên phản biện có những người hành xử theo kiểu Chí Phèo, và bên nhận phản biện ứng xử theo tư duy đẽo cày giữa đường.

Theo tác giả, phản biện kiểu Chí Phèo là do không am hiểu vấn đề nên phản biện thiếu lập luận, chỉ nói cho bõ tức, "chỉ cần nói ngược lại những điều nhà nước nói". Nghĩa là nói lấy được, không xét hậu quả. Nguyên nhân do họ nghĩ rằng phản biện ở ta không thể có tác dụng tích cực. Mặt khác do lời lẽ phản bác "càng đao to búa lớn thì càng nhận được ủng hộ nhiệt liệt của cộng đồng dân cư mạng" - "hào quang của thế giới ảo" ấy rốt cuộc đã khiến họ "bước ra khỏi ranh giới của quyền tự do ngôn luận". Hậu quả là "một loạt chủ nhân các blog đã gặp quá nhiều rắc rối về mặt pháp luật vì lý do này".

Cũng theo tác giả, tư duy đẽo cày giữa đường là tư duy của "người tiếp nhận phản biện không có được một sự vững vàng về mặt lập trường(?), cùng với một nền tảng kiến thức tốt trong lĩnh vực mà người này đang đảm nhận". Nó phản ánh một tồn tại lớn hiện nay: Thiếu trình độ chuyên môn, chưa nghiên cứu tính toán nghiêm cẩn đã vội vàng đưa ra quyết sách lớn, do đó khó tránh sai lầm, nếu thực thi sẽ gây tổn thất khôn lường cho nước nhà.

Đúng là không loại trừ khả năng có người có thái độ bất mãn, nói cho bõ tức, nhưng số này rất ít. Đa số dân ta thực sự lo cho vận mạng đất nước trong thời điểm có nhiều nguy cơ như hiện nay. Tuy nhiên, nếu coi phản biện kiểu Chí Phèo và ý muốn "tạo hư danh trên cộng đồng mạng" là nguyên nhân chính dẫn đến việc một số blogger "bị tuýt còi", thì e rằng chưa phản ánh đúng và đủ thực tế.
Chúng ta cũng không thể phủ nhận thực tế, thời gian qua nhiều ý kiến phản biện cũng chưa được coi trọng, thậm chí không có hồi đáp, và chưa được lắng nghe, do đó không thể nói phản biện đã có tác dụng tích cực. Vì thế dĩ nhiên xuất hiện cách phản biện kể trên.

Tư duy đẽo cày giữa đường không tồi. Bác nông dân chưa biết cách làm chiếc cày nên có sáng kiến ra đầu đường vừa đẽo cày vừa hỏi ý kiến người qua lại. Cho dù cuối cùng làm hỏng khúc gỗ nhưng thái độ khiêm tốn học hỏi ấy rất đáng hoan nghênh và bác rút ra được bài học quý hơn nhiều so với khúc gỗ đẽo hỏng: "Làm việc gì cũng phải có chính kiến riêng và kiên trì con đường đã chọn".
Rõ ràng, nếu tác giả của quyết sách sai lầm lại coi như không nghe thấy các ý kiến phản biện, hoặc chê đó là phản biện Chí Phèo, thì tư duy ấy còn thua xa tư duy đẽo cày giữa đường của bác nông dân kia.

Quyết sách sai lầm sớm muộn sẽ bị chính thực tế phản bác. Một khi quyết sách đã đưa vào thực thi thì thất bại sẽ được sử sách ghi vào loại "nghìn năm công tội". Đây là thất bại của bệnh chủ quan duy ý chí rất phổ biến trong các xã hội thiếu dân chủ.
Tác giả có lý khi cho rằng "phản biện là một việc làm cần thiết", "để hoạt động phản biện có hiệu quả, trước hết giới cầm quyền phải chấp nhận việc phản biện". Nếu được như thế thì đã chẳng có phản biện kiểu Chí Phèo.

Xin đừng hiểu phản biện là phủ nhận

Thế nhưng, câu "phản bác, (í quên, phản biện chứ!)" để lại ấn tượng tác giả chưa phân biệt rõ phản biện với phản bác. Đây là vấn đề cần bàn cho ra nhẽ.
Phản biện là một từ hoàn toàn do người Việt tạo ra, ghép bởi hai từ gốc chữ Hán-Việt. Trong tiếng Trung Quốc có từ phản và từ biện, nhưng không có từ phản biện. Phản là ngược lại, chống lại; vì thế phản biện dễ bị hiểu là biện luận theo chiều ngược lại, chiều phản đối, phản bác, phủ nhận.
Theo chúng tôi, có lẽ từ phản biện là dịch từ tiếng Nga opponent (vì ở Liên Xô cũ, khi bảo vệ luận án học vị phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ nhất thiết phải có opponent), đúng với định nghĩa của Từ điển tiếng Việt : "Phản biện là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi".

phản biện không có từ tương đương trong tiếng nước ngoài (trừ tiếng Nga), cho nên hợp lý hơn cả là tất cả chúng ta nên thống nhất hiểu nó theo giải thích nói trên: phản biện là đánh giá chất lượng một cách khoa học các chủ trương chính sách, dự án làm việc gì đó (đầu tư, kinh doanh ...), công trình nghiên cứu, tác phẩm v.v...
Tác giả bài Lại nói về "Phong cách Chí Phèo" trong phản biện cũng viết: Mọi người dễ hiểu nhầm phản biện là phủ nhận, phản bác lại cái đang có. Đó là cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm với người phản biện. Người phản biện là những người trước tiên phải nắm vững thông tin, có kiến thức chuyên môn về vấn đề phản biện.

Tóm lại, tuyệt đối chớ nên hiểu nhầm phản biện là phản bác, phản đối, phủ nhận - những chuyện người phương Đông chúng ta chẳng ai thích cả, nhất là lãnh đạo.
Thực ra, việc phát triển các tổ chức tư vấn là một trào lưu tiến bộ trên thế giới. Trong xã hội dân chủ, đây là các tổ chức tập hợp nhà trí thức - thường được gọi là Kho Trí tuệ, tiếng Anh là Think tank - nhằm thực hiện quyền công dân tham gia quá trình quyết sách.

Mời đọc thêm:

>> Giới làm chính sách Việt quên chiến lược, lo dự án
>> Think tanks và sự hưng vong của quốc gia
>> Ảnh hưởng của cố vấn với các nhân vật chủ chốt

>> Biết dựa vào giới nghiên cứu để chế ngự nhóm lợi ích >> Làm chính sách theo công nghệ nào?
Chính quyền các nước phát triển đều tranh thủ tận dụng được trí tuệ của các Think tank, vì vậy nhìn chung quyết sách của họ ít sai và hợp nguyện vọng đa số dân. Chúng ta có nên theo trào lưu nói trên hay không? Chịu học và nghe cái mới
Trung Quốc hơn Việt Nam cả nghìn năm tuổi, do đó không còn là "nước 4000 năm vẫn trẻ con" (Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu). Thời gian qua người Trung Quốc đã rút ra được bài học quý giá về chuyện tại sao họ cố gắng phấn đấu hy sinh nhiều đến thế, tiến hành bao nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu phong trào mà vẫn ì ạch đi sau thế giới rất xa. Thiết tưởng ta nên thử xem qua bài học đó như thế nào.

Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ nhân dân tệ (1 nhân dân tệ tương đương 0,146 USD).

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của nước này là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Đại học Nhân dân Trung Quốc đánh giá tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, của các nước phát triển là 5%.
Người Trung Quốc thông minh không kém người phương Tây, lại đông dân, lắm nhân tài, cớ sao nhiều quyết sách sai? Đó là vì hầu hết quyết sách ấy đều do một nhóm (thậm chí một cá nhân) lãnh đạo cao nhất làm ra mà không tận dụng trí tuệ của xã hội - nguồn lực quý nhất, quan trọng nhất của mỗi quốc gia.

Cách quyết sách ấy có căn nguyên sâu xa là truyền thống tư tưởng Đại Nhất Thống. Tần Thủy Hoàng "đốt sách, chôn nhà Nho" vì nhà Nho là nhà trí thức, biết nhiều nên hay "phản biện" mà vua Tần chỉ muốn Nhất thống thiên hạ, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay mình, tự mình quyết hết.
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tôn Lỗ Tấn là Đệ nhất thánh nhân Trung Quốc, nhưng chính ông lại nói nếu bây giờ còn sống thì Lỗ Tấn hoặc không viết gì nữa hoặc ngồi tù.

Để sửa cách quyết sách nói trên, thập kỷ 80 Đặng Tiểu Bình đề xuất Khoa học hóa quyết sách. Một số chuyên viên cấp cao rời cơ quan nhà nước ra ngoài lập cơ quan nghiên cứu của mình. Năm 2003 Ủy ban Phát triển Cải cách công khai tổ chức mời thầu đề tài lập quy hoạch 5 năm lần thứ X.
Năm 2004 Trung ương ĐCSTQ chỉ thị: Phải làm cho giới khoa học xã hội trở thành "Kho tư tưởng" và Think tank của Đảng và Chính phủ. Hiện nay Trung Quốc đã xây dựng được hệ thống tư vấn lớn thứ 2 thế giới với hơn 2000 Think tank nhà nước và dân lập, vài trăm nghìn nhân viên.

Đầu năm 2009, Chính phủ Trung Quốc cấp 5 triệu nhân dân tệ lập "siêu Think tank" Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (CCIEE), do nguyên Phó Thủ tướng Tăng Viêm Bồi cùng nhiều vị bộ thứ trưởng và thống đốc ngân hàng lớn đương chức hoặc nghỉ hưu phụ trách.
CCIEE sẽ tiến tới trở thành một Think tank dân lập, không dùng tiền nhà nước. Để học kinh nghiệm nước ngoài, họ đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think tank toàn cầu (7/2009), Hội nghị đối thoại chiến lược Think tank Trung Quốc-ASEAN (10/2010)...

Trung Quốc đang tiến tới thực hiện quá trình quyết sách theo quy trình khoa học, dân chủ: trước tiên các Think tank nghiên cứu đề xuất kiến nghị quyết sách. Sau đó đưa ra công luận bàn thảo đánh giá (tức phản biện). Cuối cùng Chính phủ lựa chọn tiếp nhận quyết sách tốt nhất và trình Quốc hội xem xét quyết định.
Lãnh đạo nước này đổi mới tư duy nhanh như vậy là họ rất chịu khó học cái mới. Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thường xuyên tổ chức học tập thể, mời chuyên gia mọi ngành đến giảng dạy về các trào lưu phát triển mới trên thế giới.
Tóm lại, khoa học hóa, dân chủ hóa quá trình làm quyết sách là xu thế tất yếu của nhân loại.

 

Lựa chọn lấy cái tốt nhất
  Quá trình quyết sách ở ta trước nay khác với thiên hạ: Quyết sách được quyết rồi sau đó mới đưa ra bàn, xem xét, mà nhiều khi, việc bàn bạc ấy, nhất là đưa ra công luận, lại mang nặng hình thức.
Khâu nghiên cứu của hệ thống cơ quan tư vấn phần nhiều bị bỏ qua, vì thế, không tận dụng được trí tuệ xã hội, ảnh hưởng tới chất lượng quyết sách.

Thêm vào đó, ta lại có bệnh sợ (ghét) phản biện, vì sợ ảnh hưởng tới uy tín của lãnh đạo, và lòng tin của dân và hệ quả của nó là việc tìm cách hạn chế các phát biểu ngược chiều. Thế nhưng, thực tế hoàn toàn ngược lại, khi ý kiến trái chiều bị hạn chế, lòng tin và uy tín mới thực giảm. Còn khi các chủ trương, chính sách được chủ động đưa ra xin ý kiến dân, chắc chắn, sẽ tận dụng được trí tuệ xã hội. Phản biện khi ấy sẽ có tác dụng tích cực, chứ không phải là phản biện "kiểu Chí Phèo" cùng các rắc rối kèm theo.

Quá trình quyết sách ở ta nên tiến hành theo quy trình khoa học đã nói ở trên. Với cách làm này nếu có phản biện thì chỉ là phản biện đối với các tổ chức tư vấn (Think tank) - nơi đưa ra kiến nghị quyết sách, chứ không có phản biện đối với nhà nước. Từ những kiến nghị ấy, Chính phủ và Quốc hội chỉ việc lựa chọn lấy cái tốt nhất. Như vậy vừa tránh được quyết sách sai, vừa tăng được sự đồng thuận trong xã hội.
Điều đáng mừng là gần đây ta đã bước đầu có nhận thức về nhu cầu làm công tác tư vấn, phản biện.
Tất nhiên nói dễ làm khó, nhưng nếu không làm thì chúng ta sẽ tụt sau ngày một xa các nước láng giềng. Muốn làm thế, trước hết tầng lớp lãnh đạo phải đổi mới tư duy cho hợp trào lưu quốc tế.
Thậm chí, có người còn nói: Người Việt mình nói hay, làm dở và chưa biết ... đi. Bây giờ đã đến lúc dù té ngã cũng phải cố mà cất bước tập đi, kẻo quá muộn.

13 thg 11, 2010

Người Việt: Thông minh thì không nói lời sáo rỗng

Người Việt: Thông minh thì không nói lời sáo rỗng


Người giỏi không phải là người tích đầy kiến thức, họ là người tạo ra phương pháp, chỉ ra con đường, đi trước thời đại...

Chưa thật thông minh, lại thiếu kỹ năng

Nếu hiểu "thông minh" theo cách hiểu của một số tác giả đã viết trên diễn đàn Tuần Việt Nam, tôi cho rằng, người Việt không thông minh, hoặc ít thông minh. Đơn giản là nếu người Việt thông minh thì sao đất nước giờ vẫn vào loại chậm phát triển, vẫn còn nhiều người khổ thế này? Nếu người Việt thông minh sao mấy chục năm sau mới thừa nhận trường hợp ông Kim Ngọc?
Nếu người Việt thông minh sao không biết giữ gìn di sản văn hóa, mà lại giữ theo kiểu "xây lò gạch" như câu chuyện thành Tuyên? Nếu thông minh sao lại không công nhận công nghệ giáo dục của GS. TSKH Hồ Ngọc Đại? Nếu thông minh sao đến thế kỷ 21 vẫn "con trâu đi trước cái cày đi sau?...Còn biết bao câu "nếu" nữa, tôi xin để dành bạn đọc khác viết ra...
Nhưng thôi, bàn về trí thông minh thì cũng phải định nghĩa, trí thông mình là gì? Trong cuốn sách "7 loại hình trí thông minh", trên cơ sở phân tích những bằng chứng liên quan tới não và học thuyết về phân loại trí thông minh của TS. Howard Gardner, TS.Thomas Armstrong, tác giả cuốn sách, đã mô tả 7 loại hình trí thông minh của con người như sau:

1-Trí thông minh logic toán: Đây là loại trí thông minh liên quan tới con số (toán học) và mối quan hệ logic giữa các sự vật. Những người có trí thông minh này thường làm việc trong lĩnh vực liên quan tới con số (toán, vật lý, hóa học, ngân hàng, tài chính...)

2-Trí thông minh ngôn ngữ: Đây là loại trí thông minh liên quan tới năng lực sử dụng ngôn ngữ. Những người có trí thông minh này thường là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội...
3-Trí thông minh không gian: Những người có trí thông minh này thường làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc, địa chất, vật lý thiên văn...

4-Trí thông minh cơ thể: Đây là loại trí thông minh liên quan tới vận động của thân thể thường có ở những vận động viên thể thao, nghệ sĩ múa...

5-Trí thông minh âm nhạc: Loại trí thông minh này thể hiện ở khả năng nghe nhạc, ghi nhớ nhanh giai điệu, sáng tạo ra các bản nhạc...

6-Trí thông minh về nội tâm: Thể hiện ở khả năng khám phá chiều sâu của bản thân...

7-Trí thông minh trong tương tác cá nhân: Những người có năng lực quan hệ với mọi người, nắm bắt được suy nghĩ của người khác, giỏi hợp tác, tập hợp mọi người, lãnh đạo...

Mặc dù phân chia như vậy, TS Thomas Amstrong cũng khẳng định một người có thể sở hữu nhiều loại trí thông minh, điều này lý giải tại sao có những người xuất sắc trong nhiều lĩnh vực.

Những người giỏi nhìn chung là những nguời có cái nhìn hơn người, vượt ra khỏi khuôn khổ chuẩn mực thông thường (nên người "kém cỏi" thường không hiểu và không ủng hộ họ). Họ như cây cao vươn lên khỏi ngọn cỏ. Một mình họ một tư tưởng và kiên trì tư tưởng đó, họ có khả năng dẫn dắt... Người giỏi không phải là người tích đầy kiến thức, họ là người tạo ra phương pháp, chỉ ra con đường, đi trước thời đại...
Nói về những người giỏi thời đại ngày nay, cần nói thêm cả về kỹ năng, một vấn đề khác với thông minh. Thông minh là tố chất, nhưng kỹ năng có thể học. Một người có tố chất thông minh, nhưng thiếu kỹ năng thì hiệu quả làm việc vẫn không cao. Người Việt có thể có tố chất này (nên ra nước ngoài học tập thường bật lên được), nhưng đa số người Việt thiếu kỹ năng.
Quay trở lại câu hỏi "Người Việt có thông minh không", tôi nhận thấy có lẽ chúng ta đang bàn người Việt có giỏi không, nghĩa là nhìn nhận một cách tổng hợp hơn, chứ xé lẻ ra như TS Amstrong thì chắc người Việt có thể không sở hữu nhiều lắm một số loại trí thông minh. Những người giỏi nhìn chung là những nguời có cái nhìn hơn người, vượt ra khỏi khuôn khổ chuẩn mực thông thường (nên người "kém cỏi" thường không hiểu và không ủng hộ họ). Họ như cây cao vươn lên khỏi ngọn cỏ. Một mình họ một tư tưởng và kiên trì tư tưởng đó, họ có khả năng dẫn dắt...
Người giỏi không phải là người tích đầy kiến thức, họ là người tạo ra phương pháp, chỉ ra con đường, đi trước thời đại...
Nói về những người giỏi thời đại ngày nay, cần nói thêm cả về kỹ năng, một vấn đề khác với thông minh. Thông minh là tố chất, nhưng kỹ năng có thể học. Một người có tố chất thông minh, nhưng thiếu kỹ năng thì hiệu quả làm việc vẫn không cao.
Người Việt có thể có tố chất này (nên ra nước ngoài học tập thường bật lên được), nhưng đa số người Việt thiếu kỹ năng. Tôi tạm nghĩ người giỏi có lẽ là người sở hữu trí nhiều loại trí thông minh và có kỹ năng nữa.
Kỹ năng, hiểu đơn giản là cách làm việc, cách tổ chức công việc, cách điều hành, cách quản lý, cách đàm phán, cách lãnh đạo... để đạt hiệu quả cao nhất. Cuộc sống cũng đòi hỏi kỹ năng như kỹ năng ứng xử với bạn đồng lứa, kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng phòng lây nhiễm HIV, kỹ năng từ chối khi bị sức ép, kỹ năng quản lý gia đình...

Thành Tuyên sau khi tu bổ (lò gạch giá trị giá 10 tỷ)
 

Các kỹ năng là điều phải học. Một người kiến thức đầy mình, mấy chục năm thâm niên làm việc có khi hiệu quả không bằng một người mới ra trường vài năm mà có kỹ năng tốt. Một học giả uyên bác vẫn có thể là một người cha tồi đơn giản vì thiếu kỹ năng. Tôi đã có dịp làm việc với một số giáo sư, nhà khoa học VN, có lẽ cũng khá kỳ cựu trong một ngành nọ. Họ tin họ nhiều kiến thức thì có thể hướng dẫn nông dân phòng bệnh cho gia cầm. Nhưng khi tôi mời họ đi giảng cho một số lớp học của nông dân, học viên không hiểu họ nói gì, đơn giản vì các vị này không có kỹ năng giảng dạy.
Trí thông minh đóng vai trò gì ở đây? Có, vai trò của nó đơn giản chỉ là biết học cách làm hiệu quả của những người khác, học rất nhanh. Không biết thì phải học. Đừng sĩ diện. Những người như các vị giáo sư, tiến sĩ kia rất nhiều.

Thông minh thì không "huênh hoang"

Người Việt thông minh thì đã không nói nhiều những lời rỗng tuếch như thế! Chỉ có kẻ "ngu dốt, kém cỏi" mới không tự nhận thấy mình đang nói những lời rỗng tuếch, vô nghĩa. Nếu thông minh đã tự biết mình và luôn luôn học hỏi, tìm tòi, sáng tạo.
Tôi biết có một dự án rất lớn của nước ngoài cho VN để đào tạo hàng nghìn cán bộ trong một lĩnh vực mà tôi xin miễn nói tên. Dự án tiến hành được 10 năm, bao nhiêu cán bộ được đào tạo đi đào tạo lại do chính chuyên gia quốc tế thực hiện. Tuy nhiên, khi quay trở lại đánh giá, chuyên gia phát hiện đại đa số những người này lại làm việc theo tư duy và phương pháp cũ.
Họ không thể từ bỏ được thói quen tư duy, và khi không làm được, họ quay sang đổ lỗi cho chuyên gia, cho lãnh đạo, cơ chế...miễn là không phải là tại họ.
Nếu người Việt thông minh, được đào tạo như thế, chất lượng sản phẩm của ngành đó phải được cải thiện rất nhiều mới phải.

Nên nói về trí thông minh thì cũng phải nói đến cái "hiếu học thật" (vâng, tôi cũng không tin người Việt hiếu học thật). Nếu hiếu học mà hiểu là dùi mài kinh sử thì theo tôi là hiểu rất hẹp. Lịch sử VN cũng chỉ mới đưa ra mẫu người dùi mài kinh sử mà ngày nay khó làm mẫu hình cho cách học tập của thời hiện đại.
Nền giáo dục thuộc địa của Pháp đã cho Việt Nam một số trí thức có nền tảng học vấn đáng kính phục, nhưng vấn đề kỹ năng vẫn chưa được giải quyết. Đến nền giáo dục của ta thì tôi thấy không những không được nền tảng kiến thức vững chắc mà cũng không cả kỹ năng.

Người Việt thông minh thì không nói những lời sáo rỗng
 

Nền giáo dục của các nước XHCN cũ cũng chỉ cho những người có học vấn mà thiếu kỹ năng. Những người là sản phẩm của nền giáo dục Xô Viết hay của các nước XHCN cũ để bước sang thời đại mở cửa, để làm việc với quốc tế, điều họ phải học nhiều, nhất là kỹ năng làm việc. Thế hệ trẻ hơn may mắn được tiếp thu một nền giáo dục tiên tiến, đều đang làm việc với một phong cách khác. Họ rất giỏi vì nhận được kiến thức và kỹ năng. Hi vọng lớp người này sẽ đưa đất nước tiến nhanh hơn.
Hãy hỏi người trẻ hôm nay, câu hỏi người Việt có thông minh không, có thể chúng ta sẽ nhận được một cách nhìn nhận rất khác.

Dù không thông minh lắm, nhưng sự thật là rất nhiều người Việt đủ thông minh để hiểu rằng không nên lấy quá khứ ra để chứng minh người Việt thông minh nữa.
Dân tộc nào cũng có lịch sử bảo vệ và xây dựng đất nước đáng tự hào. Chiến tranh đã lùi vào quá khứ mấy chục năm rồi. Hãy nghĩ xem phẩm chất nào, trí tuệ nào của người Việt trong chiến tranh có ích cho hòa bình và phát triển thì hãy giữ và phát huy cái đó, còn lại người Việt phải học làm ở những nước đã làm rất giỏi chứ đừng "huênh hoang".

Làm cho tốt và đạt hiệu quả cao, chất lượng cuộc sống của người nghèo được nâng lên nhanh chóng, xã hội có kỷ cương, văn minh, diệt được tham nhũng, nói thật và làm thật... thì lúc ấy mới có thể nói người Việt rất thông minh.

6 thg 11, 2010

Đằng sau quyết định tăng lãi suất của NHNN

Đằng sau quyết định tăng lãi suất của NHNN

Hồ Bá Tình 
Vietstock
Ngày 05/11/2010, NHNN vừa ban hành các quyết định nâng lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất qua đêm lên thêm 1% so với trước đó. Đâu là mục đích đằng sau động thái này của NHNN?


Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 2619/QĐ-NHNN và Quyết định số 2620/QĐ-NHNN quy định các mức lãi suất. Theo các quyết định này, kể từ ngày 5/11/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Bên cạnh đó, lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là 9%/năm; lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là 7%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ là 9%/năm.
Tất cả các mức lãi suất mới này đều tăng thêm 1% sau 11 tháng duy trì mức lãi suất không đổi.
Động thái này của NHNN đã quay ngược hoàn toàn với chủ trương giảm lãi suất thực hiện trong thời gian qua. Tuy nhiên, điều này cũng không quá bất ngờ vì thông điệp từ Chính phủ vào ngày 04/11 là “không tiếp tục thực hiện yêu cầu giảm lãi suất đối với các ngân hàng thương mại, để các ngân hàng thực hiện lãi suất tiền đồng theo thị trường, hạn chế sự méo mó trên thị trường tiền tệ hiện nay”.
Như chúng tôi đã nhận định trước đây, NHNN đang trong một “tình thế lưỡng nan” khi phải lựa chọn giữa giảm lãi suất để tăng trưởng hoặc bình ổn tỷ giá và lạm phát. Quyết định này cho thấy NHNN đã lựa chọn chính sách ưu tiên cho việc kiềm chế lạm phát và bình ổn tỷ giá.
Đối với lạm phát
Lãi suất cơ bản tăng hầu như không có tác dụng đối với thị trường tiền tệ vì hiện nay đã có cơ chế lãi suất thỏa thuận. Tuy nhiên, bằng cách tăng lãi suất cơ bản, NHNN đã gửi thông điệp rằng “chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ được áp dụng trong thời gian tới”. Điều này sẽ giúp giảm kỳ vọng lạm phát trên thị trường và cũng sẽ có tác dụng trong việc kiềm chế lạm phát thực tế, đặc biệt trong mùa vụ cao điểm cuối năm.
Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn, vay qua đêm bù đắp thanh khoản lại tác động mạnh đến chi phí vốn trên thị trường. Điều này cũng đồng nghĩa mặt bằng lãi suất có thể sẽ tăng trở lại trong thời gian tới. Mặt bằng lãi suất tăng làm giảm tăng trưởng tín dụng, khi mà “room” chỉ còn chưa đến 2% trong năm 2010 và cung tiền. Tín dụng và cung tiền vốn là nguyên nhân căn bản gây nên lạm phát Việt Nam; do vậy đây là cách hữu hiệu đề kiềm chế lạm phát.
Đối với tỷ giá
Tăng lãi suất VND khiến cho chênh lệch lãi suất đồng nội tệ và USD tăng lên. Điều này sẽ làm giảm động cơ tích trữ USD trên thị trường. Nhu cầu USD giảm làm hạ nhiệt những căng thẳng tỷ giá trên thị trường.
Qua quyết định này có thể thấy chủ trương của NHNN và Chính phủ là ưu tiên cho việc bình ổn nền kinh tế, khi mục tiêu tăng trưởng gần như đã đạt được. Hiện tại, có lẽ NHNN đã chấp nhận những thực tế diễn ra bấy lâu nay trên thị trường tiền tệ.
Quyết định tăng lãi suất “một mũi tên trúng hai đích” lạm phát và tỷ giá, hai vấn đề cơ bản gây bất ổn cho nền kinh tế. Chúng tôi cho rằng đây là một quyết định khó khăn nhưng cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tuy vậy, chúng tôi đánh giá đây chỉ là giải pháp có tính chất ngắn hạn và đối phó, chứ chưa phải là một sách lược có tính dài hạn đối với nền kinh tế.